Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 55/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 17-4-2024

“V/v Tranh chấp ly hôn,nuôi con chung”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Hoa

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/- Bà Mai Thị Thu Hà
  • 2/- Bà Nguyễn Thị Hoài Thanh

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Tố Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 36/2024/TLST–HNGĐ ngày 02 tháng 02 năm 2024 về “Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đinh Thị K, sinh năm: 1990 (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh An Giang.

Nơi tạm trú: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn B, sinh năm: 1990 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai ngày 27/12/2023 nguyên đơn chị Đinh Thị K trình bày:

Về hôn nhân: Qua thời gian tìm hiểu chị và anh Nguyễn Văn B chung sống với nhau vào năm 2009, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh An Giang số 37 ngày 27/3/2015. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2022 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do chồng chị không lo làm ăn, suốt ngày cờ bạc, rượu chè, gái gú, không lo cho vợ con, vợ chồng ly thân từ tháng 12/2022 đến nay. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn B.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Trường V, sinh ngày 18/10/2010, hiện nay đang sống với chị, sau khi ly hôn chị xin được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh B cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn B: Sau khi thụ lý vụ kiện Tòa án có tống đạt, niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng phía bị đơn đều vắng mặt không có lý do và cũng không cung cấp lời khai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Tại giai đoạn sơ thẩm những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của bộ luật tố tụng dân sự và tuân thủ đúng quy định pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án. Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đinh Thị K; về con chung giao con chung cho chị K được tiếp tục nuôi dưỡng và anh B không phải cấp dưỡng nuôi con chung, chị K phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Đinh Thị K là nguyên đơn trong vụ kiện, có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Văn B là bị đơn trong vụ kiện đã được Tòa án triệu tập đến phiên tòa xét xử lần thứ 2 nhưng anh vẫn vắng mặt không có lý do. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị Đinh Thị K và anh Nguyễn Văn B.

[2] Về hôn nhân: Chị Đinh Thị K và anh Nguyễn Văn B kết hôn với nhau vào năm 2009, hôn nhân xây dựng trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục và có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện C, tỉnh An Giang số 37 ngày 27/3/2015. Do vậy, hôn nhân của anh, chị được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Xét về mối quan hệ hôn nhân, Hội đồng xét xử nhận thấy: Chị K và anh B chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn theo chị K trình bày là do chồng chị không lo làm ăn, suốt ngày cờ bạc, rượu chè, gái gú, không lo cho vợ con, vợ chồng ly thân từ tháng 12/2022 đến nay. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn B. Đối với anh B qua 2 lần mời hòa giải tại tòa anh đều vắng mặt, cán bộ Tòa án có đến tận địa phương nhưng vẫn không ghi được lời khai do anh B vắng mặt. Xét thấy, thời gian ly thân từ năm 2022 cho đến nay hai bên không có thiện chí hàn gắn lại quan hệ tình cảm, khả năng hàn gắn là không có, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị K là hoàn toàn phù hợp.

[3] Về con chung: Chị K và anh B có 01 con chung tên Nguyễn Tường V1 sinh ngày 18/10/2010 hiện đang sống với chị K, sau khi ly hôn chị K xin được tiếp tục nuôi con chung không yêu cầu anh B cấp dưỡng. Xét thấy từ khi ly thân đến nay cháu V1 sống với chị K cuộc sống đã ổn định, xét nghĩ không nên làm xáo trộn cuộc sống của cháu V1 nên giữ nguyên việc nuôi con như hiện nay cho chị K được tiếp tục nuôi dưỡng con chung là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con chung do chị K không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu, nên không đặt ra xem xét.

[5] Về án phí: Căn cứ vào điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án chị Đinh Thị K phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng vào các Điều 51, 53, 56, 81,82,83,84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, các Điều 28, 35, 147,227, 228, 235, 266, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  • - Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Đinh Thị K.
  • Chị Đinh Thị K được ly hôn với anh Nguyễn Văn B.
  • - Về con chung: Chị Đinh Thị K được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Tường V1 sinh ngày 18/10/2010, anh Nguyễn Văn B không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền tới lui, thăm nom con chung cho anh B, không ai được cản trở.
  • - Về án phí: Chị Đinh Thị K phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0004460 ngày 02/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

Chị Đinh Thị K và anh Nguyễn Văn B được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Những người tham gia tố tụng (để thi hành);
  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - UBND xã Hòa Bình Thạnh;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Kim Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2024/HNGĐ-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 55/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Đinh Thị K Chị Đinh Thị K được ly hôn với anh Nguyễn Văn B.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger