Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH BẾN TRE

Bản án số: 55/2023/HS-ST

Ngày: 16-11-2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Như Phương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Tân.

Ông Nguyễn Văn Diệp.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Kinh Luân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hiền Mụi – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 55/2023/HSST ngày 06 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Phạm Hoàng T

sinh năm 1989 tại tỉnh Bến Tre; Nơi cư trú: số A, ấp S, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre;

Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Bán vé số; Trình độ văn hóa: 6/12; Con ông Phạm Văn H và bà Hà Thị S; Vợ: không; Con: lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2011.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/8/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lê Thị Mỹ H1 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B. (Có mặt)

* Bị hại:

Bà Trần Nhã L, sinh năm 2002. (Có yêu cầu vắng mặt)

Nơi cư trú: khu phố C, thị trấn T, huyện C, tỉnh Bến Tre.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Hà Thị S, sinh năm 1962. (Có mặt)

Nơi cư trú: số A, ấp S, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 08 giờ 15 phút, ngày 09/6/2023, bị cáo Phạm Hoàng T, sinh năm 1989 chạy xe đạp điện hiệu Hitasa màu trắng, đỏ đen của bà Hà Thị S đi bán vé số từ xã P đến xã T. Khi đến nhà chị Trần Nhã L tại số D, khu phố C, thị trấn T, huyện C, tỉnh Bến Tre, T vô nhà L định mời vé số nhưng không có ai ở nhà nên T nảy sinh ý định lấy trộm tài sản. Sau khi quan sát xung quanh, T đã lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu IPHONE 11, màu xanh lá để dưới sàn nhà cạnh cái võng. Lấy xong, T bỏ điện thoại vừa trộm được vào túi quần phải và chạy xe về ghé tiệm điện thoại của ông Nguyễn Văn Y nhờ mở khóa mật khẩu điện thoại nhưng không được. Sau đó, T đem điện thoại vừa trộm được về nhà cất giấu thì bị Công an xã T phát hiện.

Vật chứng thu giữ: - 01 điện thoại di động hiệu IPHONE 11 màu xanh lá. - 01 xe đạp điện hiệu Hitasa màu trắng, đỏ đen đã cũ.

Kết luận định giá tài sản số 1049/KL- HĐĐG ngày 20/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản - UBND huyện C kết luận như sau: một chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu xanh lá, mua vào tháng 02 năm 2022 với giá 16.490.000 đồng. Tài sản thu hồi được trị giá: 12.092.000 đồng.

Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT - Công an huyện C đã trả lại một điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu xanh lá cho Trần Nhã L, trả 01 xe đạp điện hiệu Hitasa màu trắng, đỏ đen cho bà Hà Thị Sáu . Trần Nhã L và bà Hà Thị S đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Cáo trạng số: 53/CT-VKSCT ngày 05/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre truy tố bị cáo Phạm Hoàng T về “Tội trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

* Tại phiên tòa:

  • Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng và đề nghị:
    • + Tuyên bố bị cáo Phạm Hoàng T phạm tội “Trộm cắp tài sản” và áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
    • + Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng T từ 09 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 30 tháng.
    • + Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bà Trần Nhã L và bà Hà Thị S đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
    • + Xử lý vật chứng: Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C đã trả lại một điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu xanh lá cho bà Trần Nhã L, trả 01 xe đạp điện hiệu Hitasa màu trắng, đỏ đen cho bà Hà Thị Sáu .

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Thống nhất với quan điểm truy tố về tội danh và hình phạt của đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng hình phạt 6 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách theo quy định pháp luật.

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Lời nói sau cùng: bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị hại đã được Tòa án tống đạt hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, bị hại đã có lời khai đầy đủ, rõ ràng, sự vắng mặt của bị hại không làm ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại.

[2] Lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra và tại tòa phù hợp lời khai của những người tham gia tố tụng, tang vật thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định: Xuất phát từ mục đích tư lợi bất chính nên vào khoảng 08 giờ 15 phút, ngày 09/6/2023, tại khu phố C, thị trấn T, huyện C, tỉnh Bến Tre, bị cáo Phạm Hoàng T đã có hành vi lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu IPHONE 11, màu xanh lá của Trần Nhã L trị giá 12.092.000 đồng.

[3] Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận biết rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi bất chính, bị cáo đã cố ý lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu IPHONE 11 trị giá 12.092.000 đồng của Trần Nhã L. Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đã truy tố bị cáo T về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng luật định.

[4] Bị cáo đã thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương, nơi bị cáo thực hiện tội phạm, tạo sự bất bình, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân.

[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
  • Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau: “bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn”; “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”; “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”; bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo và đang nuôi 02 con chưa thành niên theo quy định tại các điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi bị cáo gây ra, xét thấy: bị cáo bị truy tố với khung hình phạt cao nhất không quá 03 năm; ngoài lần phạm tội này, bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, chưa bị kết án hay bị xử lý vi phạm hành chính; bị cáo có 3 tình tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ Luật hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ Luật hình sự; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; bị cáo có khả năng tự cải tạo và không gây nguy hiểm cho xã hội nên đủ điều kiện để được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ Luật Hình sự và Nghị quyết 02/2018 ngày 15/5/2018 và Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do đó, Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo luật định để giáo dục bị cáo cũng như thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

[7] Đối với hành vi của bà Hà Thị S và ông Nguyễn Văn Y: do không biết T mượn xe đi trộm và không biết điện thoại do T trộm cắp mà có nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện C không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bà Hà Thị S và ông Nguyễn Văn Y là phù hợp.

[8] Lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh đối với bị cáo T là “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Về xử lý vật chứng: Việc Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C trả lại một điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu xanh lá cho bị hại Trần Nhã L, trả 01 xe đạp điện hiệu Hitasa màu trắng, đỏ đen cho bà Hà Thị S là phù hợp nên ghi nhận.

[10] Về Trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Nhã L đã nhận lại một điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu xanh lá; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hà Thị S đã nhận lại 01 xe đạp điện hiệu Hitasa màu trắng, đỏ đen. Cả hai không yêu cầu bồi thường gì thêm nên ghi nhận.

[11] Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo Phạm Hoàng T thuộc diện hộ cận nghèo và có đơn yêu cầu nên áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 12; Điều 14; Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Phạm Hoàng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng T 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 16/11/2023.

    Giao bị cáo Phạm Hoàng T cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre phối hợp cùng với gia đình bị cáo giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

    Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Xử lý vật chứng: áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C đã trả lại 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu xanh lá cho Trần Nhã L, trả 01 (một) xe đạp điện hiệu Hitasa màu trắng, đỏ đen cho bà Hà Thị Sáu .
  3. Trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, các Điều 357, 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015
    • Ghi nhận bị hại Trần Nhã L đã nhận lại 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu xanh lá và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
    • Ghi nhận bà Hà Thị S đã nhận lại 01 (một) xe đạp điện hiệu Hitasa màu trắng, đỏ đen và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
  4. Về án phí hình sự sơ thẩm: miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Phạm Hoàng T.

Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bến Tre (1b);
  • - VKSND tỉnh Bến Tre (1b);
  • - VKSND huyện Châu Thành (1b);
  • - Cơ quan điều tra CA huyện Châu Thành (1b);
  • - Cơ quan THAHS CA huyện Châu Thành (1b);
  • - Chi cục THA dân sự huyện Châu Thành (1b);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre (1b);
  • - UBND xã Phú Đức, huyện Châu Thành (1b);
  • - Bị cáo; Bị hại; người liên quan (3b);
  • - Bộ phận thi hành án Hình sự (3b);
  • - Lưu (văn phòng, hồ sơ vụ án) (2b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Như Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2023/HS-ST ngày 16/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH BẾN TRE về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 55/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger