|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do-Hạnh phúc |
|
Bản án số: 55/2024/HNGĐ-ST Ngày: 16/8/2024 “V/v: Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Huệ.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Được, ông Đỗ Văn Kha.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nga – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thủy Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước, Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 63/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXX-ST ngày 18 tháng 6 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 19/2024/QĐHPT-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Bàn Thị V, sinh năm 1990; địa chỉ nơi cư trú: thôn C, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước, có đơn vắng mặt.
- - Bị đơn: Ông Lê Văn P, sinh năm 1984; địa chỉ nơi cư trú: Tổ B, khu phố S, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Tại đơn khởi kiện và bản khai ngày 02/4/2024 nguyên đơn bà Bàn Thị V trình bày:
Bà V và ông Lê Văn P sống chung với nhau từ năm 2018, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Trước khi lấy nhau có tìm hiểu một thời gian, nhưng khi về chung sống chỉ hạnh phúc được khoảng 01 năm đầu, lúc chưa có con chung. Sau đó mâu thuẫn thường xuyên xảy ra, nguyên nhân mâu thuẫn là ông P có 01 đời vợ trước (đã ly hôn) và phải nuôi con của vợ trước, ông P cho rằng bà V không thương con riêng; ông P không chịu đi làm kiếm thu nhập sinh hoạt cho gia đình, đêm thức chơi game, ngày thì ngủ, từ đó hai người thường xuyên xảy ra cãi vã, đôi lúc ông P còn đánh bà V bầm tím người. Sau nhiều lần ông P hứa tu chí làm ăn, nhưng vẫn không thay đổi, tiếp tục chơi bời, nghiện ngập, nhiều lần còn chửi bới xúc phạm gia đình bà dẫn đến mâu thuẫn ngày càng nghiêm trọng, tháng 11/2023 bà V ra ngoài sống riêng cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm không còn, không thể tiếp tục cuộc sống chung do không mang lại hạnh phúc cho nhau, bà V đề nghị giải quyết cho bà được ly hôn với ông P để ổn định cuộc sống và chăm lo cho con.
Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Nhã Tường V1, sinh ngày 12/12/2018, bà V yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu ông P cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung và cho vay chung: Không yêu cầu xem xét giải quyết.
* Bị đơn ông Lê Văn P không có bản tự khai, vắng mặt tại phiên xét xử.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng khác đã tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật.
- - Về quan điểm giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bàn Thị V, cho bà V được ly hôn với ông Lê Văn P; Giao con chung tên Lê Nhã Tường V1, sinh ngày 12/12/2018 cho bà V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung, vay, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét; Án phí: Bà V phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án: Xác định đây là vụ án “Ly hôn” do bà Bàn Thị V khởi kiện, bị đơn là ông Lê Văn P thường trú và sinh sống tại khu phố S, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 36 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.
[1.2] Về việc vắng mặt đương sự: Nguyên đơn bà Bàn Thị V có bản khai đầy đủ và xin xét xử vắng mặt hợp lệ; bị đơn ông Lê Văn P đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào các Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Bàn Thị V và ông Lê Văn P tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo quy định tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, vào sổ đăng ký kết hôn số 103/2018, ngày 09/11/2018. Căn cứ Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình xác định đây là hôn nhân hợp pháp, bà V có đơn khởi kiện xin ly hôn với ông P là đúng quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án bà V cho rằng thời gian vợ chồng chung sống hạnh phúc được 01 năm đầu, sau đó xảy ra nhiều mâu thuẫn do ông P cho rằng bà không thương con riêng của ông với người vợ trước (đã ly hôn); bản thân ông P thì không chịu đi làm để có thu nhập lo cho gia đình mà chỉ ham chơi bời, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã, mặc dù nhiều lần ông đã hứa tu chí làm ăn, nhưng sau vẫn không thay đổi. Ngoài ra, ông P còn chửi bới xúc phạm gia đình bà V, có lúc còn đánh đập bầm tím người bà, mâu thuẫn ngày càng nghiêm trọng.
Bị đơn ông P, trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc có đến làm việc, tham gia hòa giải vào ngày 30/5/2024 và trình bày ý kiến mong muốn gia đình đoàn tụ nhưng bà V không đồng ý nên sau đó hai bên thống nhất thuận tình ly hôn, giao con chung cho bà V nuôi dưỡng, không tranh chấp yêu cầu gì về tài sản, tuy nhiên ông P không đồng ý ký biên bản làm việc mà tự ý bỏ về. Tòa án đã triệu tập ông P tham gia hòa giải, làm việc những lần sau đó nhưng ông vắng mặt không có lý do, tại phiên tòa hôm nay ông vẫn vắng mặt, như vậy ông đã từ bỏ quyền lợi ích hợp pháp của mình.
Xét thấy, hôn nhân hạnh phúc được xây dựng trên sự tự nguyện yêu thương, chăm sóc, tôn trọng lẫn nhau, nhưng trong cuộc sống chung của bà V và ông P có những mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn, không mang lại hạnh phúc cho nhau. Mặc dù Tòa án đã tạo điều kiện cho hai bên có cơ hội hòa giải nhiều lần, ông P biết và muốn gia đình đoàn tụ nhưng không có thiện chí cùng gặp gỡ bà V để trao đổi, hòa giải hàn gắn gia đình. Nay bà V cho rằng không còn tình cảm với ông P nên giữ nguyên yêu cầu ly hôn và xác định từ tháng 11/2023 đến nay vợ chồng không còn sống chung với nhau. Căn cứ vào những tài liệu-chứng cứ do nguyên đơn bà V cung cấp, Hội đồng xét xử xét tình trạng hôn nhân giữa bà V và ông P không thể tiếp tục kéo dài vì mục đích hôn nhân không đạt được, cần giải quyết chấp nhận cho bà V được ly hôn với ông P theo quy định tại khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình và Điều 4 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình;
[2.2] Về con chung: Giữa bà V và ông P có 01 con chung là Lê Nhã Tường V1, sinh ngày 12/12/2018, bà V có nguyện vọng được nuôi con. Xét cháu Lê Nhã Tường V1 còn nhỏ và hiện đang được bà V chăm sóc nuôi dưỡng từ khi vợ chồng sống riêng đến nay; hơn nữa cháu là con gái nên cần được sự chăm sóc, gần gũi của người mẹ sẽ thuận tiện hơn trong cuộc sống; ông P cũng đã có con riêng và không có ý kiến phản đối về việc bà V yêu cầu được nuôi con. Do đó, căn cứ Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà V, giao cháu Lê Nhã Tường V1 cho bà trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp.
[2.3] Cấp dưỡng nuôi con: Bà V không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con nên tạm miễn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông P đến khi có yêu cầu.
[2.4] Về tài sản chung; cho vay và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tại phiên tòa có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Về án phí: Bà V phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 4, Điều 6 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Bàn Thị V ly hôn với ông Lê Văn P (Giấy chứng nhận kết hôn số 103/2018, ngày 09/11/2018, do Ủy ban nhân dân phường T, thị xã (nay là thành phố ) Đ, tỉnh Bình Phước cấp).
- Về con chung: Giao con Lê Nhã Tường V1, sinh ngày 12/12/2018 cho bà Bàn Thị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Cấp dưỡng nuôi con: Do bà V không yêu cầu nên tạm miễn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông P đến khi có yêu cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung, không ai có quyền cản trở người đó thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, các bên đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con nếu có căn cứ cho rằng mình hoặc bên kia không đáp ứng được quyền lợi cho con.
- Về tài sản chung, cho vay và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm: Bà Bàn Thị V phải nộp 300.000 đồng, được khấu vào trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0001155 ngày 02 tháng 4 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước. Bà V đã nộp đủ án phí.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án tại chính quyền địa phương nơi cư trú.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thu Huệ |
Bản án số 55/2024/HNGĐ-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 55/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
