Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 55/2024/DS-ST

Ngày 16 tháng 8 năm 2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Đình Hưng

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Nguyễn Văn Tư.
  • 2. Bà Hoàng Thị Hồng.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Đĩnh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 69/2023/TLST- DS ngày 25/4/2023, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2024/QĐXXST-DS ngày 19/6/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 77/2024/QĐST-DS ngày 19/7/2024, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ông Lương Mạnh C, sinh năm 1983, (Có mặt).

Địa chỉ: Số A, đường L, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

Người đại diện theo ủy quyền là bà Võ Thị An B, sinh năm 1982, (Có mặt).

Địa chỉ: Số I, đường H, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

* Bị đơn:

  1. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1984, (Vắng mặt).
  2. Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố P, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

    Chỗ ở hiện nay: Tổ F, khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

  3. Ông Nguyễn Thành T1, sinh năm 1981, (Vắng mặt).
  4. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Số nhà C, ngõ D, đường P, Tổ dân phố P, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Đào Thị N, sinh năm 1950, (Vắng mặt).
  2. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ dân phố P, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

  3. Chị Phạm Thị H, sinh năm 1987, (Vắng mặt).

Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố P, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

Chỗ ở hiện nay: Tổ F, khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Toà án, Nguyên đơn và người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Lương Mạnh C là bà Võ Thị An B trình bày:

  1. Căn cứ khởi kiện yêu cầu anh Nguyễn Văn T, anh Nguyễn Thành T1 và bà Đào Thị N cùng liên đới trả khoản nợ 300.000.000 đồng như sau:
  2. Do có mối quan hệ quen biết nên cuối tháng 5/2018 Nguyễn Văn T, Nguyễn Thành T1 và ông Nguyễn Thành N1 (đã mất ngày 06/5/2019) có đến đặt vấn đề với anh C về việc vay tiền. Theo ba bố con ông N1 trình bày thì mục đích sử dụng số tiền vay là để ông N1 cùng các con (Nguyễn Văn T, Nguyễn Thành T1) xây dựng nhà xưởng, mua sắm máy móc, vật tư mở xưởng may gia công quần áo.

    Anh C nhận thấy mục đích vay của ba bố con ông N1 là nghiêm túc và trên thực tế thì gia đình ông N1 đã triển khai mặt bằng, mua sắm máy móc thiết bị và nhận hàng gia công về làm; hơn nữa, cả ông N1 và hai con trai là T, T1 cùng nhau đứng ra vay tiền và cam kết cùng trách nhiệm trả nợ nên ngày 25/5/2018, anh C đã cho gia đình ông N1 (gồm ông Nguyễn Thành N1, anh Nguyễn Thành T1 và anh Nguyễn Văn T) vay số tiền 300.000.000 đồng.

    Khi giao nhận tiền vay, các bên có lập Giấy vay tiền đề ngày 25/5/2018 do chính tay T viết và ký cùng với ông N1, anh T1 ở phần người vay tiền.

    Số tiền vay là 300.000.000 đồng. Mục đích vay: “sử dụng xây nhà xưởng và mua máy móc phục vụ sản xuất”. Thời hạn vay: đến ngày 25/6/2018 bên vay phải trả nợ. Hai bên thoả thuận tiền vay với mức lãi suất 2% tháng nhưng anh C chưa nhận được tiền lãi do bên vay thỏa thuận trả lãi cùng với gốc. Người đại diện đứng tên vay trên Giấy vay tiền là: Nguyễn Văn T, do T tự tay viết. Người nhận tiền vay và cùng nhau ký giấy gồm: Nguyễn Văn T, Nguyễn Thành N1Nguyễn Thành T1.

    Ngay sau khi ký Giấy vay tiền, anh C đã giao tiền và anh T, anh T1, ông N1 đã nhận đủ số tiền vay là: 300.000.000 đồng.

    Đến thời hạn trả nợ (25/6/2018) ông N1T, T1 có xin anh cho bố con ông khất nợ vì xưởng mới mở còn nhiều khó khăn. Anh C rất tin tưởng gia đình ông N1 nên anh C đồng ý cho ba bố con T khất nợ đến tháng 2/2019 mới phải hoàn trả. Việc khất nợ hai bên chỉ thỏa thuận miệng với nhau mà không ghi giấy tờ.

    Như vậy, ông N1 và hai con T, T1 đã vay tôi số tiền 300.000.000₫ và phải có nghĩa vụ thanh toán nợ cho anh C. Tuy nhiên, anh C được biết ông N1 đã mất ngày 06/5/2019, những người thừa kế theo pháp luật của ông có trách nhiệm liên đới cùng T, T1 thực hiện nghĩa vụ tài sản của ông khi còn sống trong phạm vi di sản để lại.

    Cụ thể: Anh C đề nghị Toà án buộc những người thuộc hàng thừa kế của ông N1 gồm: bà Đào Thị N, anh Nguyễn Thành T1, anh Nguyễn Văn T phải liên đới hoàn trả cho anh C số tiền vay gốc: 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng).

  3. Căn cứ khởi kiện yêu cầu anh Nguyễn Văn T thực hiện nghĩa vụ trả nợ hai khoản vay với tổng số tiền 400.000.000đ:
  4. Như đã trình bày, ngày 25/5/2018, ông N1 và hai con T, T1 có vay của anh C 300.000.000₫ để làm nhà xưởng may gia công. Sau khi vay tiền, gia đình ông N1 có mở xưởng may gia công và anh C có đến một vài lần. Anh C được biết cả gia đình ông N1 gồm: vợ chồng ông N1, vợ chồng T, T1.... đều tham gia sản xuất kinh doanh phát triển kinh tế gia đình. Vì vậy đến đầu năm 2019, T hỏi vay tiền để tiếp tục đầu tư xưởng may nên anh C đã đồng ý. Anh C đã cho anh T vay thêm 02 lần. Cụ thể:

    - Vào ngày 31/01/2019, anh C cho anh T vay số tiền là: 200.000.000 đồng. Thời hạn vay là 02 tháng (kể từ ngày 31/01/2019 đến ngày 31/3/2019). Lãi suất vay hai bên thỏa thuận ở ngoài là 2%/ tháng không ghi vào trong giấy vay tiền. Mục đích vay T nói là để mua máy may. Việc vay tiền được thể hiện trong Giấy vay tiền lập ngày 31/01/2019 do anh T viết và ký tên. Ngay khi anh T ký Giấy vay tiền, anh C đã giao và anh T nhận đủ số tiền 200.000.000 đồng.

    - Vào ngày 24/02/2019, anh T tiếp tục vay tôi số tiền: 200.000.000 đồng. Thời hạn vay là 01 tháng (kể từ ngày 24/02/2019 đến ngày 24/3/2019). Lãi suất vay hai bên thỏa thuận ở ngoài là 2%/ tháng không ghi vào trong Giấy vay tiền. Mục đích vay tiền anh T nói là để trả tiền lương cho công nhân. Ngay sau khi anh T ký tên trong Giấy vay tiền anh C đã giao và anh T nhận đủ số tiền 200.000.000 đồng.

    Cả hai khoản vay T đều chưa trả lãi cho anh, anh C chưa nhận được tiền lãi của T, vì T hứa trả lãi khi trả gốc nhưng đến hạn trả gốc T đã không trả cho anh C cả gốc và lãi suất.

    Như vậy, anh T đã vay của anh hai lần tổng số tiền: 400.000.000 đồng theo Giấy biên nhận vay tiền ngày 31/01/2019 và Giấy biên nhận vay tiền ngày 24/02/2019 nên anh T có nghĩa vụ phải hoàn trả cho anh.

    Anh C chỉ yêu cầu các đồng bị đơn (có thông tin nêu trên) thanh toán tiền gốc (như đã nêu ở phần yêu cầu khởi kiện) mà không yêu cầu trả lãi suất.

Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, ngày 21/7/2023, Nguyên đơn là anh Lương Mạnh C có đơn đề nghị thay đổi yêu cầu khởi kiện với nội dung:

  1. Buộc anh Nguyễn Văn T, anh Nguyễn Thành T1 phải liên đới cùng thực hiện nghĩa vụ hoàn trả cho anh Lương Mạnh C số tiền vay gốc: 300.000.000 đồng theo giấy vay tiền ngày 25/5/2018.
  2. Buộc anh Nguyễn Văn T phải hoàn trả cho anh Lương Mạnh C số tiền: 400.000.000 đồng theo giấy biên nhận vay tiền ngày 31/01/2019 và giấy biên nhận vay tiền ngày 24/02/2019.

* Anh Nguyễn Văn T là bị đơn trình bày: Anh T có hỏi vay tiền của anh C để làm ăn, anh không nhớ mốc thời gian. Lần thứ nhất, anh T hỏi anh C thì anh C có bảo viết cái giấy tay và nhờ mọi người trong gia đình ký vào, rồi sau đó đưa cho anh C. Sau khi đưa cho anh C thì anh C có báo lại cho anh T với mức lãi suất, anh T thấy mức lãi suất như anh C báo là quá cao nên anh T không vay nữa. Lần thứ hai, anh T hỏi vay anh C và anh C bảo anh T viết giấy rồi anh C cân đối lãi suất cho anh T. Sau khi anh C báo lại mức lãi suất cho anh T thì lãi suất vẫn cao nên anh T không vay nữa. Anh Thạch t không vay nữa thì anh C sẽ bỏ giấy đi. Anh T xác định anh T không vay tiền của anh C.

* Quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Thành T1 là bị đơn khai: Anh xác định chữ ký trong giấy vay tiền đề ngày 25/5/2018 là chữ ký của anh. Anh T1 xác định anh không có vay tiền anh C mà việc ký vào giấy vay tiền là do anh T bảo anh ký vào giấy thì anh ký. Khi anh T1 ký vào giấy vay tiền thì có anh T1, bố của anh T1Nguyễn Thành N1 và em trai là Nguyễn Văn T, lúc đó có C ở đó không thì anh không nhớ rõ. Anh không thấy anh C và anh T giao tiền cho nhau. Trong trường hợp anh và bố anh không ký vào giấy vay tiền thì anh C có cho anh T vay không thì anh không biết vì đây là thỏa thuận giữa anh T và anh C. Nội dung ghi trong giấy vay tiền thể hiện là để xây nhà xưởng và mua máy móc phục vụ sản xuất là không đúng vì nhà xưởng và máy móc đó là của anh. Anh và anh T chưa bao giờ thỏa thuận về việc cùng xây dựng nhà xưởng và mua máy móc. Việc anh ký vào giấy vay tiền đề ngày 25/5/2018 là tự nguyện vì em trai anh nhờ ký vào. Anh xác định việc vay tiền trên là việc cá nhân giữa anh T và anh C không liên quan đến anh và ông N1.

* Bà Đào Thị N là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày: Bà không biết gì về việc vay mượn tiền và bà cũng không nghe thấy việc ông N1, anh T1, anh T thỏa thuận với nhau về việc vay mượn tiền để xây dựng nhà xưởng và mua máy móc.

* Chị Phạm Thị H là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày: Thời gian trước anh T (Anh T là chồng của chị H) có nói làm ăn và nói hỏi vay của anh Lương Mạnh C một số tiền và có bảo chị ký vào nhưng sau đó mấy ngày thì anh T bảo với chị là không vay nữa vì lãi suất cao.

Tại phiên tòa, Anh Lương Mạnh C và người đại diện theo ủy quyền của anh C trình bày: Anh giữ nguyên yêu cầu khởi kiện cụ thể như sau:

  1. Buộc anh Nguyễn Văn T, anh Nguyễn Thành T1 phải liên đới cùng thực hiện nghĩa vụ hoàn trả cho anh Lương Mạnh C số tiền vay gốc: 300.000.000 đồng theo giấy vay tiền ngày 25/5/2018.
  2. Buộc anh Nguyễn Văn T phải hoàn trả cho anh Lương Mạnh C số tiền: 400.000.000 đồng theo giấy biên nhận vay tiền ngày 31/01/2019 và giấy biên nhận vay tiền ngày 24/02/2019.

Anh T trình bày như vậy là không đúng. Khi ký kết giấy vay tiền thì anh đều đã giao nhận tiền luôn cho bên vay tiền. Việc vay tiền là để phát triển kinh tế gia đình. Đối với giấy vay tiền ngày 25/5/2018, anh cho cả 3 bố con nhà anh T vay gồm: Anh T, ông N1, anh T1 chứ không phải cho một mình anh T vay. Việc nội dung ghi trong giấy vay tiền ngày 25/5/2018 thể hiện vay tiền là anh T tuy nhiên phần người vay tiền thì 3 bố con anh T đều ký nên anh không yêu cầu anh T phải viết lại. Đối với giấy vay tiền ngày 31/01/2019 và giấy vay ngày 24/02/2019 thì anh xác định cho anh T vay để phát triển kinh tế gia đình. Tuy nhiên, anh chỉ yêu cầu một mình anh T phải trả anh số tiền theo 2 giấy vay ngày 31/01/2019 và giấy vay ngày 24/02/2019. Số tiền anh cho vay là tài sản riêng của anh không liên quan gì đến vợ của anh. Từ khi anh cho vay, anh chưa nhận được tiền lãi nào và tiền gốc nào của cả 3 giấy vay nhưng anh không buộc phải trả anh lãi anh chỉ yêu cầu trả số tiền gốc mà bên vay đã vay của anh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu quan điểm:

+ Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đúng với quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành đúng về quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành đúng quy định tại Điều 70, Điều 72, Điều 73 Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử như sau :

Áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 180; Điều 227; Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 463; Điều 466 Bộ luật dân sự 2015;

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH1430 tháng 12 năm 2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Lương Mạnh C:
  2. Buộc anh Nguyễn Văn T phải trả cho cho anh Lương Mạnh C số tiền là: 300.000.000 đồng theo giấy vay nợ đề ngày 25/5/2018.

    Không chấp nhận yêu cầu của anh Lương Mạnh C về nội dung buộc anh Nguyễn Thành T1 phải liên đới trả anh Lương Mạnh C số tiền 300.000.000 đồng theo giấy vay nợ đề ngày 25/5/2018.

    Buộc anh Nguyễn Văn T phải trả cho cho anh Lương Mạnh C số tiền là: 400.000.000 đồng theo 02 giấy vay nợ đề ngày 24/02/2019 và giấy vay nợ đề ngày 31/01/2019.

  3. Về chi phí tố tụng: Anh Lương Mạnh C phải chịu chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng.
  4. Về án phí: Anh Nguyễn Văn T phải chịu 32.000.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Anh Lương Mạnh C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ đi số tiền đã tạm ứng án phí theo biên lai số :0002243 ngày 25/4/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án:

[1.1] Về thủ tục tố tụng: Tại đơn khởi kiện đề ngày 06/4/2023, nguyên đơn là Lương Mạnh C có yêu cầu ông N1, anh T1, anh T trả anh số tiền 300.000.000 đồng. Tuy nhiên, ông N1 đã mất ngày 06/5/2019 nên anh C yêu cầu những người thuộc hàng thừa kế của ông N1 gồm: bà Đào Thị N, anh Nguyễn Thành T1, anh Nguyễn Văn T phải liên đới hoàn trả cho tôi số tiền vay gốc: 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) và ông Nguyễn Văn T phải trả cho ông C số tiền 400.000.000 đồng tiền gốc theo giấy biên nhận vay tiền ngày 31/01/2019 và giấy biên nhận vay tiền ngày 24/02/2019. Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang đã thụ lý vụ án và xác định quan hệ pháp luật “Kiện đòi tài sản và yêu cầu thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại”.

Tuy nhiên, ngày 21/7/2023, Nguyên đơn là anh Lương Mạnh C có đơn đề nghị thay đổi yêu cầu khởi kiện với nội dung:

  1. Buộc anh Nguyễn Văn T, anh Nguyễn Thành T1 phải liên đới cùng thực hiện nghĩa vụ hoàn trả cho anh Lương Mạnh C số tiền vay gốc: 300.000.000 đồng theo giấy vay tiền ngày 25/5/2018.
  2. Buộc anh Nguyễn Văn T phải hoàn trả cho anh Lương Mạnh C số tiền: 400.000.000 đồng theo giấy biên nhận vay tiền ngày 31/01/2019 và giấy biên nhận vay tiền ngày 24/02/2019.

Nay, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xác định lại quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

[1.2] Tại thông báo thụ lý số 69/TB-TLVA ngày 25/4/2023 xác định bị đơn là Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1984; Ông Nguyễn Thành T1, sinh năm: 1981; Ông Nguyễn Thành N1 (đã chết) và người thừa kế nghĩa vụ tài sản của ông Nguyễn Thành N1 là: Bà Đào Thị N, sinh năm; 1950; Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1984; Ông Nguyễn Thành T1, sinh năm: 1981.

Ngày 21/7/2023, Nguyên đơn là anh Lương Mạnh C có đơn đề nghị thay đổi yêu cầu khởi kiện nên cần xác định lại tư cách tố tụng như sau: Bị đơn là anh Nguyễn Văn T và anh Nguyễn Thành T1. Đối với bà Đào Thị N xác định là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

[1.3] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp vay tài sản đối với bị đơn. Căn cứ khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản”. Bị đơn là anh Nguyễn Văn T và anh Nguyễn Thành T1 đều có địa chỉ cư trú tại phường D, thành phố B, căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng tại phiên tòa:

Bị đơn anh Nguyễn Văn T và anh Nguyễn Thành T1, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Phạm Thị H có đơn xin xử vắng mặt, Bà Đào Thị N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Đối với yêu cầu khởi kiện của anh Lương Mạnh C: Yêu cầu anh Nguyễn Văn T, anh Nguyễn Thành T1 phải liên đới cùng thực hiện nghĩa vụ hoàn trả cho anh Lương Mạnh C số tiền vay gốc: 300.000.000 đồng theo giấy vay tiền ngày 25/5/2018. Hội đồng xét xử thấy:

Trong quá trình giải quyết vụ án, anh T xác định anh T không vay nợ của anh C. Anh T1 cũng xác định không vay anh C và không thỏa thuận hợp tác gì đối với anh T về việc xây dựng nhà xưởng và mua máy móc. Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang đã tiến hành đối chất nhưng anh T đều vắng mặt. Anh T cho rằng anh có hỏi vay tiền của anh Lương Mạnh C nhưng do lãi suất cao anh không vay tiền nữa, lời trình bày của anh T là không có căn cứ để chấp nhận.

Nguyên đơn là anh Lương Mạnh C có cung cấp được 01 giấy vay tiền gốc đề ngày 25/5/2018 để chứng minh yêu cầu khởi kiện.

Tại giấy vay tiền ngày 25/5/2018 có nội dung thể hiện: “Tôi tên là Nguyễn Văn T... tôi có vay của anh Lương Mạnh C số tiền 300.000.000 đồng, với mục đích sử dụng xây nhà xưởng và mua máy móc phục vụ sản xuất”. Tuy nhiên tại phần ký người vay tiền thì có anh Nguyễn Văn T, ông Nguyễn Thành N1 và anh Nguyễn Thành T1 đều ký tên. Như vậy cần xác định việc vay tiền được thực hiện giữa anh Nguyễn Văn T và anh Lương Mạnh C. Anh Nguyễn Văn T2 và ông Nguyễn Thành N1 không liên quan đến việc vay tiền.

Từ đó cần buộc anh Nguyễn Văn T phải trả cho anh Lương Mạnh C số tiền 300.000.000 đồng theo giấy vay tiền đề ngày 25/5/2018 là đảm bảo theo quy định tại Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự 2015.

[3.2] Đối với yêu cầu khởi kiện của anh Lương Mạnh C: Buộc anh Nguyễn Văn T phải hoàn trả cho anh Lương Mạnh C số tiền: 400.000.000 đồng theo giấy biên nhận vay tiền ngày 31/01/2019 và giấy biên nhận vay tiền ngày 24/02/2019. Hội đồng xét xử thấy:

Nguyên đơn là anh Lương Mạnh C có cung cấp được 01 giấy vay tiền gốc đề ngày 24/2/2019 và 01 giấy vay tiền gốc đề ngày 31/01/2019 để chứng minh yêu cầu khởi kiện.

Tại giấy vay đề ngày 31/01/2019 thể hiện: “Tên tôi là anh Nguyễn Văn T vay với số tiền 200.000.000 đồng. Thời hạn vay là từ ngày 31/01/2019 đến ngày 31/03/2019. Mục đích là để mua máy may. Tại giấy vay tiền thể hiện nộ dung đã nhận đủ số tiền trên bằng tiền mặt”.

Tại giấy vay đề ngày 24/02/2019 thể hiện: “Tên tôi là anh Nguyễn Văn T vợ (chồng) là Phạm Thị H có vay với số tiền 200.000.000 đồng. Thời hạn vay là từ ngày 31/01/2019 đến ngày 31/03/2019. Mục đích là trả tiền lương CN. Tại giấy vay tiền thể hiện nộ dung đã nhận đủ số tiền trên bằng tiền mặt”. Tuy nhiên tại phần chữ ký bên vay tiền chỉ có anh Nguyễn Văn T ký tên.

Trong quá trình giải quyết vụ án, anh T xác định anh T không vay nợ của anh C. Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang đã tiến hành đối chất nhưng anh T đều vắng mặt. Anh T cho rằng anh có hỏi vay tiền của anh Lương Mạnh C nhưng do lãi suất cao anh không vay tiền nữa, lời trình bày của anh T là không có căn cứ để chấp nhận.

Do vậy, cần xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh C, buộc anh T phải thanh toán số nợ gốc 400.000.000 đồng cho anh C là đảm bảo theo quy định tại Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự 2015.

[4] Về chi phí tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của anh Lương Mạnh C có yêu cầu Tòa án tiến hành thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng nên anh C phải chịu chi phí trên.

[5] Về án phí: Anh Lương Mạnh C không được chấp nhận yêu cầu buộc anh T2 và anh T phải liên đới trả tiền nên anh C phải chịu án phí dân sự không có giá ngạch là 300.000 đồng.

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận một phần nên bị đơn anh Nguyễn Văn T phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 180; Điều 227; Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 463; Điều 466 Bộ luật dân sự 2015;

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH1430 tháng 12 năm 2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Lương Mạnh C:
  2. Buộc anh Nguyễn Văn T phải trả cho cho anh Lương Mạnh C số tiền là: 300.000.000 đồng theo giấy vay nợ đề ngày 25/5/2018.

    Không chấp nhận yêu cầu của anh Lương Mạnh C về nội dung buộc anh Nguyễn Thành T1 phải liên đới trả anh Lương Mạnh C số tiền 300.000.000 đồng theo giấy vay nợ đề ngày 25/5/2018.

    Buộc anh Nguyễn Văn T phải trả cho cho anh Lương Mạnh C số tiền là: 400.000.000 đồng theo 02 giấy vay nợ đề ngày 24/02/2019 và giấy vay nợ đề ngày 31/01/2019.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

  3. Về chi phí tố tụng: Anh Lương Mạnh C phải chịu 6.000.000 đồng tiền chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng. Xác nhận anh C đã nộp đủ số tiền trên.
  4. Về án phí: Anh Nguyễn Văn T phải chịu 32.000.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Anh Lương Mạnh C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ đi số tiền đã tạm ứng án phí theo biên lai số: 0002243 ngày 25/4/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang. Hoàn trả anh Lương Mạnh C số tiền 15.700.000 đồng còn lại theo biên lai số: 0002243 ngày 25/4/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang.

  6. Về quyền kháng cáo:
  7. Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

  8. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND thành phố Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc giang;
  • - Chi cục THADS thành phố Bắc Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Đình Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2024/DS-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 55/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa anh Lương Mạnh C và anh Nguyễn Văn Th
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger