|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 55/KT-ST Ngày: 16 – 7 – 2024 V/v “ Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đoàn Thị Thỉnh;
- Bà Hồ Thị Lệ Thu.
Thư ký phiên tòa: Trần Thị Thanh –Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mộng Tuyền - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 15 và 16 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 7, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 05/2024/TLST-KDTM về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 235/2024/QĐXXST-KDTM ngày 21 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 179/2024/QÐST - KDTM, ngày 20 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty TNHH T; Trụ sở: Số A Quốc lộ A, khu phố E, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn: Ông Nguyễn Hữu H - Chức vụ: Giám đốc
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H1; sinh năm 1989; Địa chỉ: Số F H, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh - Là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 30/10/2023).
Bị đơn: Công ty Cổ phần K1; Địa chỉ: Tầng G, Tòa nhà P, số A đường H, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Kim Jeong R - Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Nguyên K, sinh năm 1982; địa chỉ: Số A C, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1
Tại đơn khởi kiện đề ngày 30/10/2023, các bản tự khai, biên bản phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, ông Nguyễn Văn H1 người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty TNHH T trình bày:
Công ty TNHH T ("Công ty T") và Công ty Cổ phần K1 ("Công ty K1") có ký kết Hợp đồng Kinh tế Số: 12-12-17VA-KD vào ngày 12 tháng 12 năm 2017. Nội dung hợp đồng thể hiện Công ty T bán và lắp đặt nội thất cho Công ty K1 cho công trình TRUE FRIENDS PARK - BLOOMING TOWER DANANG tại phường T, Quận H, thành phố Đà Nẵng. Giá trị Hợp đồng là 5.200.000.000 đồng (Năm tỷ hai trăm triệu đồng), thuế VAT 10% là 520.000.000 đồng (Năm trăm hai mươi triệu đồng). Phương thức thanh toán như sau:
- Đặt cọc 10% sau khi ký Hợp đồng
- Tạm ứng 30% khi tập kết 20% hàng hóa tại công trình
- Tạm ứng 30% tiếp theo khi tập kết 40% hàng hóa tại công trình
- Tạm ứng 25% tiếp theo lắp đặt tại công trình
- Phần còn lại 5% sau khi có chứng thư bảo lãnh và hóa đơn VAT.
Nếu quá hạn Công ty K1 chưa thanh toán thì áp dụng lãi suất chậm trả là 0,1%/ngày.
Thực hiện theo thỏa thuận trong Hợp đồng, Công ty T đã hoàn thành việc cung cấp và lắp đặt nội thất cho Công ty K1. Hai bên đã xác nhận công nợ đến ngày 31/01/2019, Công ty K1 còn nợ Công ty T số tiền là 1,960,267,000 (Một tỷ chín trăm sáu mươi triệu, hai trăm sáu mươi bảy ngàn) đồng. Tuy nhiên, Công ty T nhiều lần yêu cầu Công ty K1 thực hiện việc thanh toán nhưng phía Công ty K1 không thực hiện.
Với mong muốn giải quyết vụ việc trên tinh thần thiện chí, thương lượng, Công ty T đã nhiều lần gửi văn bản cho Công ty K1 nhưng Công ty K1 tìm nhiều lý do để trốn tránh trách nhiệm trả nợ. Lần gần nhất Công ty K1 gửi Công văn từ chối nghĩa vụ thanh toán là vào ngày 11/11/2020 với lý do Chủ đầu tư dự án chưa thanh toán cho Công ty K1.
Công ty T cho rằng việc Công ty K1 chậm trễ thanh toán đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty T. Do đó, Công ty T khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết:
- Buộc Công ty Cổ phần K1 thanh toán tiền nợ gốc tính đến ngày chốt công nợ là 31/01/2019 là: 1.960.267.000 đồng (Một tỷ chín trăm sáu mươi triệu, hai trăm sáu mươi bảy ngàn đồng);
- Buộc trả tiền lãi chậm trả: tạm tính từ ngày 01/02/2019 (thời điểm vi phạm nghĩa vụ trả tiền) đến ngày 01/11/2023 (57 tháng) là: 1.960.267.000 đồng
2
x 0,83%/tháng x 57 tháng = 927.402.317 đồng (Chín trăm hai mươi bảy triệu, bốn trăm lẻ hai ngàn, ba trăm mười bảy đồng).
Tổng số tiền yêu cầu Công ty Cổ phần K1 phải thanh toán cho Công ty T là: 2.887.669.317 đồng (Hai tỷ tám trăm tám mươi bảy triệu sáu trăm sáu mươi chín ngàn ba trăm mười bảy đồng). Trả một lần khi bản án có hiệu lực. Số tiền lãi chậm trả được tính tiếp đến thời điểm Công ty cổ phần K1 thanh toán xong khoản nợ.
Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện buộc bị đơn phải trả tiền nợ gốc là 1.960.267.000 đồng (Một tỷ chín trăm sáu mươi triệu, hai trăm sáu mươi bảy ngàn đồng). Đối với việc tính lãi suất, tại Điều 4 của Hợp đồng kinh tế số 12-12-17VA-KD mà hai công ty đã ký kết ngày 12/12/2017 có quy định “nếu quá thời hạn thanh toán mà bên B vẫn chưa thanh toán cho bên A thì lãi suất áp dụng là 0.1%/ngày trễ hạn thanh toán cho phần chưa thanh toán”. Tuy nhiên để phù hợp với quy định của pháp luật nguyên đơn đề nghị chỉ tính lãi suất là 8%/năm và ngày bắt đầu tính lãi bắt đầu từ ngày 07/02/2019 đến ngày 14/7/2024 với số tiền lãi được tính là 851.991.115 đồng (tám trăm năm mươi mốt triệu, chín trăm chín mốt nghìn, một trăm mười lăm). Tổng cộng số tiền nguyên đơn buộc bị đơn phải trả bao gồm cả gốc và lãi là: 2.812.258.115 đồng (hai tỷ, tám trăm mười hai nghìn một trăm mười lăm). Trả một lần ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực. Ngoài ra nguyên đơn không còn yêu cầu nào khác với bị đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Nguyên K trình bày:
Ông bắt đầu làm việc tại Công ty K1 từ tháng 08 năm 2018 đến tháng 01 năm 2020 với vai trò giám sát tại công trình True F - B của Công ty. Ông xác nhận Công ty T đã giao đúng số lượng hàng hóa ông cũng đã ký nhận trong các biên bản bàn giao hàng tại công trình. Công ty T đã vận chuyển và lắp ráp đúng yêu cầu. Về số liệu thực tế cần bàn giao của 02 công ty ông không được biết nội tình, ông chỉ xác nhận về số lượng được nhập về công trình. Việc khởi kiện của 02 công ty ông không có ý kiến gì và có đơn đề nghị được vắng mặt trong các buổi hòa giải, xét xử tại Tòa án.
Bị đơn Công ty Cổ phần K1: Đã được Tòa án tiến hành tống đạt và niêm yết hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tại Tòa nhưng không đến làm việc và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình. Vì vậy, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn. Tòa án cũng tiến hành tống đạt và niêm yết hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 235/2024/QĐXXST-KDTM ngày 21 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 179/2024/QÐST-KDTM, ngày 20 tháng 6 năm 2024 nhưng Công ty Cổ phần K1 vẫn vắng mặt tại phiên tòa hôm nay.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
3
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
Về nội dung, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về án phí dân sự: Bị đơn Công ty Cổ phần K1 phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án;
Sau khi nghe kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 phát biểu quan điểm;
Hội đồng xét xử thảo luận những vấn đề cần giải quyết trong vụ án;
[1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án và thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết:
Công ty T khởi kiện Công ty K1 yêu cầu thanh toán số tiền từ hợp đồng kinh tế số 12-12-17VA-KD, ngày 12/12/2017 còn nợ. Theo Công văn số 1370/ĐKKD-T6, ngày 15/02/2024 của Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H thì Công ty K1 có địa chỉ trụ sở tại Tầng G, tòa nhà P, số A, đường H, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Do vậy, đây là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh giữa hai Công ty có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận được quy định tại Khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh theo Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Về chứng cứ và nghĩa vụ chứng minh: Tại Khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bị đơn không có ý kiến phản hồi và không phản bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu chứng cứ gì, vắng mặt không có lý do. Căn cứ Khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì Công ty K1 đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình qua việc không đến Tòa tham gia tố tụng, phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án giải quyết vụ việc trên theo những chứng cứ có trong hồ sơ.
[1.3] Về thủ tục tố tụng: Công ty K1 đã được Tòa án niêm yết hợp lệ Thông báo thụ lý, giấy triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ và hòa giải và triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến
4
lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Nguyên K có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Theo quy định tại điểm b Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[2] Về nội dung tranh chấp:
[2.1] Công ty TNHH T yêu cầu Tòa án buộc Công ty Cổ phần K1 phải thanh toán cho nguyên đơn toàn bộ số tiền là 2.812.258.115 đồng (hai tỷ tám trăm mười hai triệu hai trăm năm mươi tám nghìn một trăm mười lăm), trong đó:
- Số tiền nợ gốc chưa thanh toán của Hợp đồng kinh tế số 12-12-17VA-KD, ngày 12/12/2017 là: 1.960.267.000 đồng (Một tỷ chín trăm sáu mươi triệu, hai trăm sáu mươi bảy ngàn);
- Tiền lãi do chậm trả tính từ 07/02/2019 đến ngày 14/07/2024 là 851.991.115 đồng (tám trăm năm mươi mốt triệu chín trăm chín mốt nghìn một trăm mười lăm).
Yêu cầu trả ngay số tiền trên khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
[2.1] Xét Hợp đồng kinh tế số 12-12-17VA-KD, ngày 12/12/2017 về việc cung cấp hàng hóa và lắp đặt nội thất cho công trình True F - B tại phường T, Quận H, thành phố Đà Nẵng. Hai doanh nghiệp đều đăng ký doanh nghiệp hợp pháp, người ký kết hợp đồng là người đại diện hợp pháp, hợp đồng được ký kết tự nguyện. Nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật. Vì vậy, hợp đồng có hiệu lực thi hành với các bên.
[2.2] Đối với yêu cầu đòi số tiền nợ gốc là 1.960.267.000 đồng (Một tỷ chín trăm sáu mươi triệu, hai trăm sáu mươi bảy ngàn) của hợp đồng kinh tế số 12-12-17VA-KD, ngày 12/12/2017.
Căn cứ lời khai và các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp bao gồm hợp đồng kinh tế số 12-12-17VA-KD, ngày 12/12/2017, bảng xác nhận số lượng giao hàng, bảng tổng hợp thanh toán có cơ sở xác định: Công ty T và Công ty K1 có ký kết với nhau đồng kinh tế số 12-12-17VA-KD, ngày 12/12/2017, Công ty T đã cung cấp hàng hóa đúng như bảng kê đính kèm hợp đồng để lắp đặt cho công trình True F - Blooming Tower D tại địa điểm phường T, Quận H, thành phố Đà Nẵng. Công ty T cũng đã hoàn tất công việc của mình theo đúng tiến độ, thể hiện qua biên bản xác nhận khối lượng giao hàng và lời khai của ông Trần Nguyên K là người giám sát công trình rằng Công ty T đã vận chuyển, lắp ráp theo đúng yêu cầu của Công ty K2, cũng đã giao đúng số lượng nhập về công trình. Theo các giấy báo có của Ngân hàng TMCP Á thì Công ty K1 đã thanh toán được cho Công ty T tổng số tiền là 3.466.000.000 đồng. Công ty T cũng đã xuất hoá đơn giá trị gia tăng cho tổng số tiền đã nhận. Mặc dù hai Công ty chưa ký biên bản nghiệm thu công trình, nhưng căn cứ bảng tổng hợp thanh toán được hai bên ký kết ngày 17/4/2019, qua các chứng cứ nêu trên và quá trình giải quyết vụ án Công ty K1 cũng không có văn bản trình bày ý kiến phản đối số tiền mua hàng còn thiếu này. Như vậy, Công ty K1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo
5
Điều 4 của Hợp đồng kinh tế các bên đã ký kết cũng như quy định tại Điều 50 Luật Thương mại nên yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.2] Đối với yêu cầu đòi số tiền lãi chậm trả là 851.991.115 đồng (tám trăm năm mươi mốt triệu, chín trăm chín mốt nghìn, một trăm mười lăm). Số tiền lãi chậm trả được tính tiếp đến thời điểm Công ty cổ phần K1 thanh toán xong khoản nợ.
Căn cứ Điều 4 Hợp đồng thi kinh tế số 12-12-17VA-KD, ngày 12/12/2017 các bên đã thỏa thuận về việc lãi do chậm thanh toán.
Căn cứ Điều 306 Luật Thương mại quy định “.....bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả ......” và căn cứ Án lệ số: 09/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán TANDTC thông qua ngày 17/10/2016 quy định: Để tính lãi suất chậm thanh toán cần phải áp dụng lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán. Căn cứ để tính mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị thường theo quy định tại Điều 306 Luật Thương mại thì cần phải áp dụng mức lãi suất quá hạn trung bình của ít nhất ba Ngân hàng tại địa phương. Theo thông tin về mức lãi suất cho vay sản xuất kinh doanh thông thường từ các Ngân hàng được thu thập cụ thể: Ngân hàng TMCP N – chi nhánh S là 7.5%/năm; Ngân hàng TMCP S1 – Chi nhánh Q 8.5%; Ngân hàng N1 - Chi nhánh Q: 9%. Do đó mức lãi suất quá hạn trung bình [7.5%+8.5% + 9%] : 3 = 8.3%/năm.
Tại phiên tòa nguyên đơn lấy mức lãi suất là 8%/năm là phù hợp với quy định của Pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu buộc bị đơn phải trả tiền lãi của nguyên đơn.
[2.4] Xét về thời gian thanh toán nợ: nguyên đơn yêu cầu bị đơn có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số nợ mua hàng còn thiếu và tiền phạt vi phạm hợp đồng làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, yêu cầu này là phù hợp với pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí sơ thẩm;
Nguyên đơn không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[4] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[5] Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
6
Căn cứ Khoản 1 Điều 30, Điểm b Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 91, Điều 147; Điều 220; Khoản 2 Điều 227; Điều 228 và Khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 50, Điều 306 của Luật Thương mại năm 2005;
- Căn cứ Án lệ số: 09/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán TANDTC thông qua ngày 17/10/2016;
- Căn cứ Điều 5 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;
- Căn cứ Luật phí và lệ phí Tòa án và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
- Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
- Căn cứ Luật Thi hành án Dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Xử:
1. Về hình thức: Xử vắng mặt bị đơn Công ty Cổ phần K1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Nguyên K.
2. Về nội dung:
2.1. Buộc bị đơn Công ty Cổ phần K1 phải trả cho nguyên đơn Công ty TNHH T tổng số tiền là 2.812.258.115 đồng (Hai tỷ tám trăm mười hai triệu, hai trăm năm mươi tám nghìn, một trăm mười lăm đồng); trong đó: nợ gốc là 1.960.267.000 đồng (Một tỷ chín trăm sáu mươi triệu, hai trăm sáu mươi bảy ngàn đồng); tiền lãi chậm trả tạm tính đến ngày 14/7/2024 là 851.991.115 đồng (tám trăm năm mươi mốt triệu, chín trăm chín mốt nghìn, một trăm mười lăm). Trả làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực thi hành. Thi hành tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
2.2. Kể từ ngày 15/7/2024 Công ty Cổ phần K1 còn phải tiếp tục trả khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất trung bình thị trường của 03 ngân hàng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Công ty Cổ phần K1 phải chịu 88.245.162 đồng (tám mươi tám triệu hai trăm bốn mươi lăm nghìn một trăm sáu mươi hai), nộp tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Hoàn trả lại cho Công ty TNHH T số tiền án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 44.876.693 (bốn mươi bốn triệu, tám trăm bảy mươi sáu nghìn, sáu trăm chín mươi ba đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0037869, ngày 08/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 7.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi
7
hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
4. Án xử công khai, tuyên án vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Công ty TNHH T được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Công ty Cổ phần K1 và ông Trần Nguyên K có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thu Trang |
8
Bản án số 55/KT-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Số bản án: 55/KT-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yc Nguyên đơn
