TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 55/2024/HS-ST Ngày: 16/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Công Nhận
2. Bà Nguyễn Thị Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Thành - Kiểm sát viên.
- Người tiến hành tố tụng tại điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh H, gồm: Ông Nguyễn Xuân B - Thư ký TAND huyện Thanh Hà; Ông Nguyễn Quang H - Kiểm sát viên VKSND huyện Thanh Hà.
Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm TAND huyện Thanh Hà và điểm cầu thành phần Trại Tạm giam Công an tỉnh H, TAND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 39/2024/TLST-HS ngày 21/6/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Minh H1, sinh năm 1998; nơi sinh và nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T và bà Nguyễn Thị T1; vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 25/4/2024, chuyển tạm giam từ ngày 28/4/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh H; có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Ngọc H2, sinh năm 1993, địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương (vắng mặt)
- Người chứng kiến: Ông Trần Văn D, sinh năm 1964, địa chỉ: Khu C, huyện T, tỉnh Hải Dương (vắng mặt)
- Người tham gia tố tụng khác: Ông Nguyễn Đức S - Cán bộ Trại tạm giam Công an tỉnh H- là người hỗ trợ tổ chức phiên tòa tại điểm cầu thành phần Công an tỉnh H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào hồi 21 giờ 00 phút ngày 25/4/2024 tại đường tỉnh 390 thuộc khu A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương, Công an huyện T phát hiện bắt quả tang Phạm Minh H1 đang bán trái phép ma tuý cho Nguyễn Ngọc H2, sinh năm 1993 ở thôn Đ, xã T, huyện T. Công an đã thu giữ trong lòng bàn tay phải của H2 01 túi nilon kích thước 1x1cm bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng. Xét hỏi tại chỗ, H2 và H1 đều khai nhận chất tinh thể màu trắng nêu trên là ma tuý đá H2 vừa mua của H1 với giá 500.000đ, mục đích để sử dụng. H1 đã giao nộp số tiền trên cho Công an quản lý theo quy định.
Kết luận giám định số 235 ngày 28/4/2024 của phòng K công an tỉnh H kết luận: chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng trong túi nilon màu trắng được niêm phong trong phong bì, ghi của Nguyễn Ngọc H2, gửi đến giám định khối lượng là 0,030g, là ma túy, loại Methamphetamine
Tại bản cáo trạng số 39/CT-VKSHD-TH ngày 20/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Phạm Minh H1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận và trình bày toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã mô tả.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Minh H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm b, c khoản 2 Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Đề nghị xử phạt bị cáo từ 24-27 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/4/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng: Tịch thu tiêu 01 túi nilon màu trắng và các vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định cũng như hoàn lại; tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 500.000đ. Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Hồi 21 giờ 00 phút ngày 25/4/2024, tại đường T thuộc khu A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương, Phạm Minh H1 bán trái phép 0,030g gam ma túy loại Methamphetamine cho Nguyễn Ngọc H2 lấy số tiền 500.000 đồng thì bị phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến những quy định của nhà nước về quản lý và sử dụng chất ma túy, xâm phạm tới trật tự an toàn xã hội. Vì vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.
[4]Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
[5] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng: Phong bì niêm phong các mẫu vật do phòng K Công an tỉnh H hoàn lại sau giám định gồm 01 túi nilon màu trắng, vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định là vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu cho tiêu hủy. Đối với số tiền 500.000đ mà bị cáo H1 đã giao nộp, xét đây là tiền do bị cáo phạm tội mà có nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[8] Nguyễn Ngọc H2 có hành vi mua ma tuý với mục đích để sử dụng. Do khối lượng ma túy H2 cất giấu là 0,030 gam Methamphetamine, chưa đủ định lượng cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma tuý, H2 chưa có tiền án, tiền sự về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, nên Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H2 là phù hợp.
H1 khai nguồn gốc ma tuý bán cho H2 là do H1 mua của một người đàn ông tên là T2 ở chân cầu H thuộc địa phận L, T, T. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã xác minh trên các địa bàn lân cận nhưng đến nay chưa rõ đối tượng bán ma tuý cho H1 là ai, nên chưa có căn cứ để xử lý đối tượng này.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm b, c khoản 2 Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Minh H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Xử phạt bị cáo Phạm Minh H1 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/4/2024.
3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 túi nilon màu trắng và các vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định cũng như hoàn lại. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 500.000đ.
(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra-Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Hà).
4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nơi nhận: - VKSND huyện Thanh Hà; - VKSND tỉnh Hải Dương; - Công an huyện Thanh Hà; - Cơ quan cảnh sát điều tra-Công an huyện Thanh Hà; - Cơ quan Thi hành án hình sự - Công an tỉnh Hải Dương; - Chi cục THADS huyện Thanh Hà; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Nhung |
Bản án số 55/2024/HS-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 55/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hồi 21 giờ 00 phút ngày 25/4/2024, tại đường T thuộc khu A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương, Phạm Minh H1 bán trái phép 0,030g gam ma túy loại Methamphetamine cho Nguyễn Ngọc H2 lấy số tiền 500.000 đồng thì bị phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
