|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT TỈNH VĨNH LONG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 56/2024/HS-ST Ngày 16-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Tấn Đồng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Bảy
Ông Nguyễn Đinh Cường
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Bảo, là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít tham gia phiên tòa:
Ông Trần An Khương - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm: Hội trường xét xử trực tuyến Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long và điểm cầu thành phần: Hội trường trực tuyến Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long và Hội trường trực tuyến Ủy ban nhân dân xã L, huyện M, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2024/HS-ST ngày 30 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Cẩm L, sinh ngày 16 tháng 8 năm 1971 tại huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
Nơi cư trú ấp L, xã L, huyện M, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn) lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hoàng T (chết) và bà Nguyễn Thị B (chết); có chồng là Nguyễn Văn Bé E và 02 con, lớn nhất sinh năm 1995 và nhỏ nhất sinh năm 2008 ; tiền án: không; tiền sự: 01 tiền sự. Ngày 15/3/2023, bị Công an huyện M, tỉnh Vĩnh Long xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc số tiền 1.500.000 đồng; nhân thân: chưa có án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị cáo tại ngoại (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
- Trần Thị Ú, sinh năm 1956; địa chỉ cư trú ấp L, xã L, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
- Nguyễn Thị Ngọc T1, sinh năm 1975; địa chỉ cư trú ấp L, xã L, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
- Bùi Văn C, sinh năm 1982; địa chỉ cư trú ấp L, xã L, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
- Huỳnh Phước N, sinh năm 1966; địa chỉ cư trú ấp L, xã L, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
- Nguyễn Văn T2, sinh năm 1957; địa chỉ cư trú khóm A, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
- Ngũ Hoàng Q, sinh năm 1988; địa chỉ cư trú ấp B, xã H, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
- Người làm chứng: Nguyễn Thị Cẩm T3, sinh năm 1997; địa chỉ cư trú ấp L, xã L, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Nguyễn Thị Cẩm L là người đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, nhưng không biết ăn năn hối cải mà tiếp tục vi phạm.
Vào khoảng 15 giờ 20 phút, ngày 20/01/2024, bị cáo Nguyễn Thị Cẩm L đi đến tiệm tạp hóa của bà Nguyễn Thị Hồng H, sinh năm 1963, nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện M, tỉnh Vĩnh Long để uống nước. Lúc này L nhìn thấy bên trong nhà mồ của bà Trần Thị Ú1 có nhiều người đang tụ tập nên L đi qua xem. Khi đến nhà mồ thấy có Nguyễn Thị Ngọc T1, Bùi Văn C, Huỳnh Phước N, Nguyễn Văn T2 và Ngũ Hoàng Q đang đánh Domino ăn thua bằng tiền. Hình thức đánh bạc là đánh D, mỗi người làm cái 03 bàn, mỗi tụ được chia 03 quân cờ Domino để điếm nút ăn thua trực tiếp với nhà làm cái, quy ước mỗi bàn đặt từ 20.000 đồng đến 30.000 đồng. L vào tham gia được 03 bàn thì lực lượng Công an huyện M đến tiến hành kiểm tra và lập biên bản sự việc đánh Domino ăn thua bằng tiền đối với các đối tượng trên.
Tang vật và đồ vật thu giữ bao gồm:
- Tiền tang trên chiếu bạc: 200.000 đồng;
- 27 quân cờ Domino;
- Tiền Việt Nam 1.500.000 đồng thu trên người của Nguyễn Thị Ngọc T1.
- Tiền Việt Nam 230.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu đen và 01 điện thoại di động hiệu OPPO A5S thu trên người của Nguyễn Thị Cẩm L.
- Tiền Việt Nam 800.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu xanh thu trên người của Nguyễn Văn T2.
- Tiền Việt Nam 1.600.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu xanh thu trên người của Huỳnh Phước N.
- Tiền Việt Nam 1.520.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu OPPO A5S màu xanh thu trên người của Bùi Văn C và 01 xe mô tô biển số 64F6-25.65.
- Tiền Việt Nam 2.000.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Nokia ViVo Y5S màu xanh thu trên người của Ngũ Hoàng Q và 01 xe mô tô biển số 64E1-350.96.
- Tiền Việt Nam 2.600.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu OPPO A5S thu trên người của Nguyễn Thị Cẩm T3.
Quá trình làm việc với Nguyễn Thị Cẩm L, Bùi Văn C, Huỳnh Phước N, Ngũ Hoàng Q, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Thị Ngọc T1 đã thừa nhận hành vi đánh bạc (đánh D) ăn thua bằng tiền của mình. Cơ quan điều tra đã chứng minh được các đối tượng đánh bạc cụ thể như sau:
- Nguyễn Thị Cẩm L khi tham gia đánh bạc, L có mang theo số tiền 270.000 đồng, sử dụng 200.000 để đánh bạc. Khi bị lập biên bản sự việc L thua 40.000 đồng và bị tạm giữ số tiền 230.000 đồng.
- Nguyễn Văn T2 khi tham gia đánh bạc, T2 có mang theo số tiền 860.000, sử dụng 500.000 đồng để đánh bạc. Khi bị lập biên bản sự việc T2 thua 60.000 đồng và bị tạm giữ số tiền 800.000 đồng.
- Huỳnh Phước N khi tham gia đánh bạc, N có mang theo số tiền 1.540.000 đồng, sử dụng 200.000 đồng để đánh bạc. Khi bị lập biên bản sự việc Nam thắng được 60.000 đồng và bị tạm giữ số tiền 1.600.000 đồng.
- Nguyễn Thị Ngọc T1 khi tham gia đánh bạc, T1 có mang theo số tiền 1.590.000 đồng, sử dụng 50.000 đồng mua bộ cờ D và dùng 40.000 đồng để đánh bạc. Khi bị lập biên bản sự việc T1 thua 40.000 đồng và bị tạm giữ số tiền 1.500.000 đồng.
- Ngũ Hoàng Quí khi tham gia đánh bạc, Q có mang theo số tiền 1.800.000 đồng, sử dụng 200.000 đồng để đánh bạc Khi bị lập biên bản sự việc Quí thắng 200.000 đồng và bị tạm giữ số tiền 2.000.000 đồng.
- Bùi Văn C khi tham gia đánh bạc, C có mang theo số tiền 1.840.000 đồng, sử dụng 320.000 đồng để đánh bạc. Khi bị lập biên bản sự việc Chương thua 120.000 đồng, còn lại 200.000 đồng trên chiếu bạc và bị tạm giữ số tiền 1.500.000 đồng.
Ngày 6/3/2023, bị cáo Nguyễn Thị Cẩm L bị khởi tố về tội Đánh bạc và ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.
Về tang vật và đồ vật thu giữ:
- Tiền tang trên chiếu bạc: 200.000 đồng. Cơ quan điều tra đã chứng minh tiền của Bùi Văn C. Đây là tiền dùng để đánh bạc và có liên quan đến việc đánh bạc nên tiếp tục tạm giữ chờ xử lý.
- 27 (hai bảy) quân cờ D đã qua sử dụng. Đây là công cụ để thực hiện hành vi phạm tội nên tiếp tục tạm giữ chờ xử lý.
- Tiền Việt Nam 230.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu đen và 01 điện thoại di động hiệu OPPO A5S. Cơ quan điều tra đã chứng minh đây là tài sản của bị cáo L. Tiền Việt Nam 230.000 đồng có liên quan đến vụ án nên tiếp tục tạm giữ chờ xử lý. 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 và 01 điện thoại di động hiệu OPPO A5S không có liên quan đến vụ án nên đã trả lại cho bị cáo L xong.
- Tiền Việt Nam 1.500.000 đồng. Cơ quan điều tra đã chứng minh đây là tài sản của Nguyễn Thị Ngọc T1 không có liên quan đến vụ án nên đã trả lại cho T1 xong.
- Tiền Việt Nam 800.000 đồng. Cơ quan điều tra đã chứng minh đây là tài sản của Nguyễn Văn T2. Tiền Việt Nam 800.000 đồng, trong đó 440.000 đồng là tiền đánh bạc, còn lại 360.000 đồng không có liên quan đến vụ án nên đã trả lại cho T2 xong.
- Tiền Việt Nam 1.600.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu xanh. Cơ quan điều tra đã chứng minh đây là tài sản của Huỳnh Phước N. Tiền Việt Nam 1.600.000 đồng, trong đó 260.000 đồng là tiền đánh bạc, còn lại 1.340.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu xanh không có liên quan đến vụ án nên đã trả lại cho N xong.
- Tiền Việt Nam 1.520.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu OPPO A5S màu xanh và 01 xe mô tô biển số 64F6-25.65. Cơ quan điều tra đã chứng minh đây là tài sản của Bùi Văn C. Tiền Việt Nam 1.520.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu OPPO và 01 xe mô tô biển số 64F6-25.65 không có liên quan đến vụ án nên đã trả lại cho C xong.
- Tiền Việt Nam 2.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Nokia ViVo Y5S màu xanh và 01 xe mô tô biển số 64E1-350.96. Cơ quan điều tra đã chứng minh đây là tài sản của Ngũ Hoàng Q. Tiền Việt Nam 2.000.000 đồng, trong đó 400.000 đồng là tiền đánh bạc, còn lại 1.600.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Nokia ViVo và 01 xe mô tô biển số 64E1-350.96 không có liên quan đến vụ án nên đã trả lại cho Q xong.
- Tiền việt N2 đồng 2.600.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh. Cơ quan điều tra đã chứng minh đây là tài sản của Nguyễn Thị Cẩm T3. Tiền Việt Nam 2.600.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh không có liên quan đến vụ án nên đã trả lại cho Nguyễn Thị Cẩm T3 xong.
Về trách nhiệm dân sự:
Vào ngày 20/01/2024, bị cáo L cùng với Nguyễn Thị Ngọc T1, Nguyễn Văn T2, Huỳnh Văn N1, Ngũ Hoàng Q và Bùi Văn C đã tham gia đánh bạc với tổng số tiền 1.460.000 đồng và đã thanh toán cho nhau. Nên buộc bị cáo L nộp 160.000 đồng; ông T2 nộp 440.000 đồng, ông N1 nộp 260.000 đồng, anh Q nộp 400.000 đồng. Hiện nay bị cáo L; ông T2, ông N1 và anh Q đã nộp lại xong.
Đối với các đối tượng Nguyễn Thị Ngọc T1, Nguyễn Văn T2, Huỳnh Văn N1, Ngũ Hoàng Q, Bùi Văn C hành vi chưa cấu thành tội phạm nên Cơ quan điều tra đã xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
Đối với Nguyễn Thị Cẩm T3 có mặt tại địa điểm đánh bạc nhưng không có tham gia đánh bạc nên không xử lý.
Tại Cáo trạng số: 38/CT-VKS.HMT ngày 24 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít truy tố bị cáo Nguyễn Thị Cẩm L phạm tội: Đánh bạc, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung Cáo trạng và đề nghị áp dụng khoản 1 khoản 3 Điều 321; Điều 47; các điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; các Điều 106 và Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án. Đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Cẩm L phạm tội: Đánh bạc và đề nghị xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 01 năm tù cho hưởng án treo. Phạt bổ sung bị cáo số tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng. Về vật chứng đề nghị tịch thu tiêu hủy 27 quân cờ Domino; tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền dùng đánh bạc là 1.460.000 đồng. Riêng số tiền 70.000 đồng thu trong người bị cáo L không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên đề nghị trả lại cho bị cáo. Tuy nhiên, cần tiếp tục tạm giữ số tiền 70.000 đồng của bị cáo để đảm bảo thi hành án. Về án phí buộc bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận mình có tội và không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, tỉnh Vĩnh Long, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Thị Cẩm L khai nhận: Bị cáo là người đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc vào ngày 15/3/2023. Vào lúc khoảng 15 giờ 50 phút ngày 20/01/2024, tại khu nhà mồ, thuộc ấp L, xã L, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Bị cáo có tham gia đánh bạc (đánh D) ăn thua bằng tiền với các đối tượng T3, T2, Nam, Q và C, với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 1.460.000 đồng.
Xét; lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với nội dung cáo trạng và lời buộc tội của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà, phù hợp với biên bản về việc đánh bạc (Domino được thua bằng tiền), lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, vật chứng và phù hợp với các chứng cứ khác đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận:
Nguyễn Thị Cẩm L phạm tội: Đánh bạc, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng ở địa phương, bị cáo không tích cực lao động để có thu nhập hợp pháp mà dùng hình thức đánh bạc để tước đoạt tiền của người khác một cách trái pháp luật. Đánh bạc là một tệ nạn xã hội thường dẫn đến các hậu quả nghiêm trọng khác như trộm cắp, gây thương tích, cướp tài sản ...vì thế, để đấu tranh ngăn chặn tệ nạn này không để tái diễn trong xã hội, giữ gìn trật tự công cộng, bảo vệ tính mạng, sức khỏe và tài sản của công dân. Bị cáo là người đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc nhưng không biết ăn năn hối cải. Vì vậy cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tuy nhiên, xét bị cáo sau khi phạm đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong công tác được Giám đốc Công an tỉnh V tặng thưởng Giấy khen đã có thành tích xuất sắc trong phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Nên xem đây là các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Cần phạt bổ sung đối với bị cáo.
[3] Về vật chứng:
- Đối với 27 (hai mươi bảy) quân cờ D đã qua sử dụng. Đây là công cụ để thực hiện hành vi phạm tội và không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với số tiền 1.530.000 đang tạm giữ. Trong đó:
- + Số tiền 1.460.000 đồng mà bị cáo L và các đối tượng T3, T2, N1, Q và C sử dụng vào việc đánh bạc nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- + Số tiền còn lại 70.000 đồng của bị cáo L không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo. Tuy nhiên, cần tiếp tục tạm giữ số tiền 70.000 đồng của bị cáo L để đảm bảo thi hành án.
[4] Xét, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận.
[5] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 khoản 3 Điều 321; Điều 47; các điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51và Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; các Điều 106 và Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Cẩm L phạm tội: Đánh bạc.
- Phạt bị cáo Nguyễn Thị Cẩm L 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, với 01 (một) năm 06 (sáu) tháng thử thách. Thời hạn thử thách tính từ ngày 16/7/2024
- Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thị Cẩm L số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng)
- Về vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 27 (hai mươi bảy) quân cờ D đã qua sử dụng.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:
- Số tiền 1.460.000 đồng (một triệu bốn trăm sáu chục ngàn đồng).
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Cẩm L số tiền 70.000 đồng (bảy chục ngàn đồng). Tuy nhiên, cần tiếp tục tạm giữ số tiền 70.000 đồng (bảy chục ngàn đồng) của bị cáo để đảm bảo thi hành án.
(Vật chứng trên hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít đang quản lý, theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 05/6/2024 và Lệnh thanh toán ngày 04/6/2024).
- Án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Cẩm L phải chịu số tiền 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Thị Cẩm L cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện M, tỉnh Vĩnh Long để giám sát giáo dục.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Nguyễn Thị Cẩm L thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo.
Trường hợp bản án, quyết định, được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được qui định theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Án xử trực tuyến công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Báo cho biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
Riêng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt. Báo cho biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Trương Tấn Đồng |
Bản án số 56/2024/HS-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG về hình sự - đánh bạc
- Số bản án: 56/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: đánh bạc
