Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 55/2023/HS-ST

Ngày: 15-8-2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thơ.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Nguyễn Thị Kim Đào;
  2. Ông Đoàn Tấn Tiên.

Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Tuyết Mai, Thư ký Tòa án nhân dân

Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu tham gia

phiên tòa:

Ông Lê Tuấn Kiệt – Kiểm sát viên.

Bà Mai Thị Diệu Hiền – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 11 và 15 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 40/2023/TLST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2023/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2023/HSST-QĐ ngày 03 tháng 8 năm 2023 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Thị N, sinh năm 1970, tại tỉnh Tây Ninh; nơi ĐKHKTT: Áp P, xã P, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; chỗ ở hiện nay: Ấp P, xã S, huyện D, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Cao đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh D và bà Nguyễn Thị C; bị cáo có chồng và 02 người con; tiền án, tiền sự: Không có; ngày 13-3-2023 bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Huyện D áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại.
  2. Ngô Thị Tuyết L, sinh năm: 1993, tại: tỉnh Tây Ninh; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Khu phố B, Thị trấn D, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn C1 và bà Nguyễn Thị C2; bị cáo chưa có chồng, con; tiền án, tiền sự: Không có; bị tạm giữ từ ngày 05-3-2023, tạm giam từ ngày 13-3-2023, đến ngày 31-3-2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh; bị cáo tại ngoại.
  3. Lê Quốc T, sinh năm: 1989, tại: tỉnh Tây Ninh; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Ấp P, xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thành T1 và bà Đặng Thị T2; bị cáo có vợ (đã ly hôn), 01 người con; tiền án, tiền sự: Không có; bị tạm giữ từ ngày 05-3-2023, tạm giam từ ngày 13-3-2023, đến ngày 31-3-2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh; bị cáo tại ngoại.
  4. Lê Thị Hồng T3, sinh năm: 1987, tại: tỉnh Tây Ninh; nơi ĐKHKTT: Ấp P, xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; chỗ ở hiện nay: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn L1 (đã chết) và bà Phạm Thị N1; bị cáo có chồng, 02 người con; tiền án, tiền sự: Không có; bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Huyện D áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13-3-2023; bị cáo tại ngoại.
  5. Huỳnh Thị D1, sinh năm: 1988, tại: tỉnh Tây Ninh; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Ấp P, xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Cao đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn S và bà Nguyễn Thị Thu H1; bị cáo có chồng, 02 người con; tiền án, tiền sự: Không có; bị tạm giữ từ ngày 05-3-2023, tạm giam từ ngày 13-3-2023, đến ngày 31-3-2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh; bị cáo tại ngoại.
  6. Phạm Hồng M, sinh năm: 1985, tại: tỉnh Tây Ninh; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Số B, tổ F, ấp P, xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Cao đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T4 và bà Trần Thị T5; bị cáo có chồng, 02 người con; tiền án, tiền sự: không có; bị tạm giữ từ ngày 05-3-2023, tạm giam từ ngày 13-3-2023, đến ngày 31-3-2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh; bị cáo tại ngoại.
  7. Nguyễn Thị Kim S1 (tên gọi khác: T6), sinh năm: 1980, tại: tỉnh Tây Ninh; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ F, ấp P, xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Cao đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Phước T7 và bà Phạm Thị P; bị cáo có chồng, 02 người con; tiền án, tiền sự: Không có; bị tạm giữ từ ngày 05-3-2023, tạm giam từ ngày 13-3-2023, đến ngày 31-3-2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh; bị cáo tại ngoại.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Anh Võ Văn H2, sinh năm 1976; địa chỉ: Ấp P, xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)
  • - Anh Nguyễn Văn T8, sinh năm 1984; địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 23 giờ ngày 04-3-2023, Nguyễn Thị N chuẩn bị bài tây và sử dụng quán cà phê của mình tại ấp P, xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh cho Lê Quốc T, Huỳnh Thị D1, Ngô Thị Tuyết L, Phạm Hồng M, Nguyễn Thị Kim S1, Lê Thị Hồng T3 và 02 người thanh niên tên H3K (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) tham gia đánh bạc trái phép bằng hình thức bài cào thắng, thua bằng tiền để thu lợi từ việc bán nước uống và thu tiền xâu. Mỗi người tham gia đánh bạc đặt cược mỗi ván với số tiền 100.000 đồng, khi có kết quả thì những người còn lại phải chung chi cho người có điểm cao nhất. Đến 00 giờ 40 phút, ngày 05-3-2023, lực lượng Công an xã S kiểm tra, phát hiện bắt quả tang thu giữ tại chiếu bạc số tiền 3.300.000 đồng và nhiều vật chứng liên quan đến việc đánh bạc.

Hành vi phạm tội của các bị cáo cụ thể như sau:

  • - Nguyễn Thị N sử dụng quán cà phê của mình và chuẩn bị bài tây, bàn ghế cho M, T3, S1, L, T, D1 và 02 người tên H3K tham gia đánh bài cào thắng, thua bằng tiền nhằm bán được nước uống và thu lợi bất chính. N đã nhận tiền xâu từ T, M và người tên H3 với tổng số tiền 170.000 đồng. Ngoài ra, N còn khai nhận từ khoảng đầu tháng 02-2023, bắt đầu sử dụng quán cà phê của mình cho các những người khác đến tham gia đánh bạc thắng, thua bằng tiền để thu lợi từ việc bán nước uống, thuốc hút và mì gói phục vụ cho các đối tượng tham gia đánh bạc.
  • - Lê Quốc T mang theo số tiền 3.483.000 đồng để sử dụng vào mục đích đánh bạc. T tham gia đặt cược khoảng 20 ván, kết quả thắng được số tiền 700.000 đồng. Khi bị bắt quả tang, T bị thu giữ số tiền 100.000 đồng còn đặt trên chiếu bạc và số tiền 4.083.000 đồng trên người của T. Ngoài ra, T đã trả tiền xâu cho N 02 lần, mỗi lần với số tiền 50.000 đồng.
  • - Huỳnh Thị D1 mang theo số tiền 2.000.000 đồng để sử dụng vào mục đích đánh bạc. Dư tham gia đặt cược khoảng 35 ván, kết quả thắng được số tiền 300.000 đồng. Khi bị bắt quả tang, D1 bị thu giữ số tiền 100.000 đồng còn đặt trên chiếu bạc và số tiền 1.900.000 đồng trên người của D1.
  • - Ngô Thị Tuyết L mang theo số tiền 13.822.000 đồng, trong đó sử dụng số tiền 8.822.000 đồng vào mục đích đánh bạc, số tiền 5.000.000 đồng cất dưới yên xe mô tô dùng tiêu xài cá nhân và đóng hụi. Lụa đặt cược khoảng 15 ván, kết quả thua số tiền 300.000 đồng. Khi bị bắt quả tang, L bị thu giữ số tiền 100.000 đồng còn đặt trên chiếu bạc và số tiền 13.422.000 đồng (trong đó thu giữ số tiền 8.422.000 đồng trên người và thu giữ số tiền 5.000.000 đồng dưới yên xe mô tô của Lụa).
  • - Phạm Hồng M mang theo số tiền 2.000.000đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc. M tham gia đặt khoảng 25 ván, kết quả thắng được số tiền 1.300.000 đồng. Khi bị bắt quả tang, M bị thu giữ số tiền100.000 đồng còn đặt trên chiếu bạc và số tiền 3.200.000đồng trên người M. Ngoài ra, đã trả tiền xâu cho N 01 lần, với số tiền 50.000 đồng.
  • - Nguyễn Thị Kim S1 mang theo số tiền 400.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc. Sa tham gia đặt cược khoảng 10 ván, kết quả không thắng, thua. Tại ván cuối cùng, S1 đặt số tiền 100.000 đồng xuống chiếu bạc nhưng chưa có kết quả thì bị bắt quả tang, S1 chạy thoát. Đến 13 giờ, ngày 05-3-2023, S1 đến Công an Huyện D đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và giao nộp lại số tiền 300.000 đồng là tiền dùng để đánh bạc mang theo khi bỏ chạy khỏi điểm đánh bạc.
  • - Lê Thị Hồng T3 mang theo số tiền 15.810.000 đồng, nhưng chỉ sử dụng số tiền 3.000.000 đồng để tham gia đánh bạc, số tiền 12.810.000 đồng dùng để trả nợ và tiêu xài. T3 đặt cược khoảng 22 ván, kết quả thắng được số tiền 100.000 đồng. Khi bị bắt quả tang, T3 bị thu giữ số tiền 100.000 đồng đã đặt trên chiếu bạc và số tiền 16.310.000 đồng trên người của T3.

Như vậy, tổng số tiền dùng vào mục đích đánh bạc là 22.405.000 đồng (trong đó số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 19.705.000 đồng, số tiền các đối tượng khác bỏ lại chiếu bạc là 2.700.000 đồng).

Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

* Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và các tình tiết khác được áp dụng:

  • - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
  • - Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo Nguyễn Thị N, Lê Quốc T, Huỳnh Thị D1, Ngô Thị Tuyết L, Phạm Hồng M, Nguyễn Thị Kim S1Lê Thị Hồng T3 đã thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật:

  • - Tiền Việt Nam: 42.515.000 đồng được đựng trong bì thư được đóng dấu niêm phong bởi Ngân hàng N2 – Chi nhánh D2 và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện D;
  • - 52 (năm mươi hai) lá bài tây, đã qua sử dụng;
  • - 02 (hai) cái bàn gỗ;
  • - 08 (tám) cái ghế nhựa.

* Kết quả kê biên tài sản:

  • - Kê biên thửa đất số 133, tờ bản đồ số 17, diện tích 722m², tọa lạc tại xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh của Nguyễn Thị Kim S1.
  • - Kê biên thửa đất số 340, tờ bản đồ số 56, diện tích 550m², tọa lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh của Lê Thị Hồng T3.
  • - Bị cáo Phạm Hồng M đang thế chấp quyền sử dụng thửa đất số 65, tờ bản đồ số 01, diện tích 392m², tọa lạc tại xã S, huyện D, tỉnh Tây Ninh để vay vốn tại Ngân hàng A chi nhánh huyện D2 nên không tiến hành kê biên.
  • - Các bị cáo Nguyễn Thị N, Lê Quốc T, Huỳnh Thị D1Ngô Thị Tuyết L không có tài sản riêng nên không tiến hành kê biên.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật đã áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị N, Lê Quốc T, Huỳnh Thị D1, Ngô Thị Tuyết L, Phạm Hồng M, Nguyễn Thị Kim S1, Lê Thị Hồng T3 phạm tội “Đánh bạc”;

  • + Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N từ 12 (mười hai) đến 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ; không áp dụng hình phạt bổ sung.
  • + Căn cứ khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35, 36 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Quốc T từ 12 (mười hai) đến 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ; phạt bổ sung số tiền từ 10 – 20 triệu đồng.
  • + Căn cứ khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35, 36 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Huỳnh Thị D1 từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ; phạt bổ sung số tiền từ 10 – 20 triệu đồng.
  • + Căn cứ khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35, 36 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Ngô Thị Tuyết L từ 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ; phạt bổ sung số tiền từ 10 – 20 triệu đồng.
  • + Căn cứ khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35, 36 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phạm Hồng M từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ; phạt bổ sung số tiền từ 10 – 20 triệu đồng.
  • + Căn cứ khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35, 36 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim S1 từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ; phạt bổ sung số tiền từ 10 – 20 triệu đồng.
  • + Căn cứ khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35, 36 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Thị Hồng T3 từ 12 (mười hai) đến 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ; phạt bổ sung số tiền từ 10 – 20 triệu đồng.
  • - Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
  • + Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước tiền, phương tiện sử dụng vào mục đích đánh bạc và tiền có được do thắng bạc.
  • + Trả cho bị cáo tiền, tài sản không sử dụng vào mục đích phạm tội.
  • + Tịch thu tiêu hủy công cụ, phương tiện sử dụng vào mục đích đánh bạc nhưng không còn giá trị sử dụng.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tính hợp pháp của hành vi, Quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có khiếu nại về hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo thể hiện:

Vào ngày 04-3-2023, tại ấp P, xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh, Nguyễn Thị N đã sử dụng quán cà phê của mình để cho Lê Quốc T, Huỳnh Thị D1, Ngô Thị Tuyết L, Phạm Hồng M, Nguyễn Thị Kim S1, Lê Thị Hồng T3 và 02 người khác đánh bạc trái phép bằng hình thức bài cào thắng thua bằng tiền để bán nước uống và thu tiền xâu. Tổng số tiền xác định dùng vào mục đích đánh bạc là 22.405.000 đồng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai, lời nhận tội của các bị cáo phù hợp biên bản bắt quả tang, với những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Nguyễn Thị N, Lê Quốc T, Huỳnh Thị D1, Ngô Thị Tuyết L, Phạm Hồng M, Nguyễn Thị Kim S1, Lê Thị Hồng T3 phạm tội “Đánh bạc” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi của từng bị cáo: Các bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện, mỗi bị cáo thực hiện hành vi với tính chất mức độ khác nhau nên cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi của từng bị cáo. Các bị cáo đánh bạc bằng hình thức đánh bài cào, người có số điểm cao nhất thì thắng, không có người làm cái. Các bị cáo sử dụng tiền vào mục đích đánh bạc lần lượt như sau: Bị cáo Lụa sử sụng 8.822.000 đồng là cao nhất trong các bị cáo tham gia đánh bạc nên phải chịu mức hình phạt cao hơn các bị cáo còn lại. Bị cáo T sử dụng 3.483.000 đồng, T3 sử dụng 3.000.000 đồng, bị cáo D1M mỗi bị cáo sử dụng 2.000.000 đồng, số tiền đánh bạc của bị cáo T, T3 chênh lệch không lớn nên chịu mức hình phạt ngang nhau, cao hơn bị cáo D1 và bị cáo M; bị cáo S1 sử dụng 400.000 đồng chịu hình phạt thấp nhất trong vụ án này. Bị cáo N không trực tiếp đánh bạc nhưng sử dụng địa điểm thuộc quyền sở hữu của mình để cho các bị cáo đánh bạc và thu lợi từ việc thu tiền xâu, tụ tập đông người gây mất trật tự, ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương nên phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi của mình. Xét thấy, các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ tính răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[4.2] Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo S1 đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Các bị cáo phạm tội vì mục đích lợi nhuận nên cần phạt bổ sung các bị cáo một số tiền nhất định để sung ngân sách Nhà nước. Riêng bị cáo N hiện nay không có thu nhập ổn định, không có tài sản và đang phải điều trị bệnh nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Biện pháp tư pháp:

  • [6.1] Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc, tiền thu lợi bất chính từ việc đánh bạc.
  • Đối với số tiền 2.700.000 đồng không xác định được chủ sở hữu nhưng thu giữ trên chiếu bạc khi bắt quả tang cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

  • [6.2] Tịch thu tiêu hủy công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội nhưng không còn giá trị sử dụng.
  • [6.3] Tài sản, tiền bị thu giữ nhưng không liên quan đến tội phạm cần tuyên trả cho các bị cáo.
  • [7] Đối tượng tên H3, Khang qua điều tra, xác minh không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể khi điều tra được sẽ xử lý sau.
  • [8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự;

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội “Đánh bạc”

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 01 (một) năm 03 (ba) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.

    Giao bị cáo Nguyễn Thị N cho Ủy ban nhân dân xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật thi hành án Hình sự.

  2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự;

    Tuyên bố bị cáo Ngô Thị Tuyết L phạm tội “Đánh bạc”

    Xử phạt bị cáo Ngô Thị Tuyết L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án. Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ tạm giam là 27 ngày bằng 81 ngày cải tạo không giam giữ.

    Giao bị cáo Ngô Thị Tuyết L cho Ủy ban nhân dân Thị trấn D, Huyện D, tỉnh Tây Ninh để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân Thị trấn D trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật thi hành án Hình sự.

  3. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự;

    Tuyên bố bị cáo Lê Quốc T phạm tội “Đánh bạc”

    Xử phạt bị cáo Lê Quốc T 01 (một) năm 03 (ba) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án. Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ tạm giam là 27 ngày bằng 81 ngày cải tạo không giam giữ.

    Giao bị cáo Lê Quốc T cho Ủy ban nhân dân xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật thi hành án Hình sự.

  4. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự;

    Tuyên bố bị cáo Lê Thị Hồng T3 phạm tội “Đánh bạc”

    Xử phạt bị cáo Lê Thị Hồng T3 01 (một) năm 03 (ba) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.

    Giao bị cáo Lê Thị Hồng T3 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật thi hành án Hình sự.

  5. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự;

    Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị D1 phạm tội “Đánh bạc”

    Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị D1 01 (một) năm cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án. Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ tạm giam là 27 ngày bằng 81 ngày cải tạo không giam giữ.

    Giao bị cáo Huỳnh Thị D1 cho Ủy ban nhân dân xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật thi hành án Hình sự.

  6. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự;

    Tuyên bố bị cáo Phạm Hồng M phạm tội “Đánh bạc”

    Xử phạt bị cáo Phạm Hồng M 01 (một) năm cải tạo không giam giữ, Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án. Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ tạm giam là 27 ngày bằng 81 ngày cải tạo không giam giữ.

    Giao bị cáo Phạm Hồng M cho Ủy ban nhân dân xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã S trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật thi hành án Hình sự.

  7. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự;

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Kim S1 phạm tội “Đánh bạc”

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim S1 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án. Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ tạm giam là 27 ngày bằng 81 ngày cải tạo không giam giữ.

    Giao bị cáo Nguyễn Thị Kim S1 cho Ủy ban nhân dân xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã S trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật thi hành án Hình sự.

  8. Hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 2 Điều 35, khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

    Phạt bổ sung các bị cáo Ngô Thị Tuyết L, Lê Quốc T, Lê Thị Hồng T3, Huỳnh Thị D1, Phạm Hồng M, Nguyễn Thị Kim S1 mỗi bị cáo số tiền 10.000.000 đồng.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Thị N.

  9. Biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • 9.1. Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước:
    • - Tiền Việt Nam: 24.705.000 (hai mươi bốn triệu bảy trăm lẻ năm ngàn) đồng.

      - Buộc bị cáo Nguyễn Thị N nộp lại số tiền 170.000 đồng;

      - Buộc bị cáo Ngô Thị Tuyết L nộp lại số tiền 300.000 đồng;

    • 9.2. Tịch thu tiêu hủy:
    • - 52 (năm mươi hai) lá bài tây, đã qua sử dụng;

      - 02 (hai) cái bàn gỗ;

      - 08 (tám) cái ghế nhựa.

    • 9.3. Trả cho các bị cáo tiền không sử dụng vào việc đánh bạc
    • - Trả cho bị cáo Lê Thị Hồng T3 số tiền 12.810.000 đồng;

      - Trả cho bị cáo Ngô Thị Tuyết L số tiền 5.000.000 đồng.

      (Vật chứng, tiền hiện Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 31-5-2023, cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án).

    • 9.4. Tiếp tục duy trì Lệnh kê biên:
    • - Lệnh kê biên số 06/LKB-CSĐT: Kê biên tài sản của bị cáo Nguyễn Thị Kim S1 thửa đất số 133, tờ bản đồ số 17, diện tích 722m², tọa lạc tại xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS01549 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 07-8-2015 cho bị cáo Nguyễn Thị Kim S1 và anh Võ Văn H2 (chồng bị cáo S1) đứng tên.

      - Lệnh kê biên số 07/LKB-CSĐT: Kê biên tài sản của bị cáo Lê Thị Hồng T3 thửa đất số 340, tờ bản đồ số 56, diện tích 550m², tọa lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS14354 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 14-7-2022 cho bị cáo Lê Thị Hồng T3 và anh Nguyễn Văn T8 (chồng bị cáo T3) đứng tên.

  10. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

    Các bị cáo Nguyễn Thị N, Lê Quốc T, Ngô Thị Tuyết L, Lê Thị Hồng T3, Phạm Hồng M, Huỳnh Thị D1, Nguyễn Thị Kim S1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

  11. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
  12. Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án này lên Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết tại trụ sở Tòa án, trụ sở Ủy ban nhân dân xã (phường), nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh TN;
  • - VKSND tỉnh TN;
  • - Sở Tư pháp;
  • - VKSND H.DMC;
  • - CQĐT CA H.DMC;
  • - Nhà tạm giữ CA H.DMC;
  • - Chi cục THADS H.DMC;
  • - PV06 – Công an tỉnh TN;
  • - Vụ Giám đốc kiểm tra I;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thơ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2023/HS-ST ngày 15/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH về đánh bạc

  • Số bản án: 55/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Nguyễn Thị N, Lê Quốc T, Huỳnh Thị D1, Ngô Thị Tuyết L, Phạm Hồng M, Nguyễn Thị Kim S1, Lê Thị Hồng T3 phạm tội “Đánh bạc” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger