Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2024/DS-PT

Ngày 14/5/2024

V/v tranh chấp thừa kế và

yêu cầu tháo dỡ công trình

xây dựng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Chí Công

Các Thẩm phán: Ông Lê Văn Hà

Ông Trần Văn Thưởng

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Trà My, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai: Bà Hoàng Hải Ly - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 24/2024/TLPT-DS ngày 29 tháng 3 năm 2024 về việc "Tranh chấp thừa kế và yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng".

Do bản án dân sự sơ thẩm số 08/2024/DS-ST ngày 28 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 65A/2024/QĐ-PT ngày 24 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Hà Tiên P, sinh năm 1960; địa chỉ: Thôn A, xã T, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
  2. Bị đơn: Ông Hà Tiên V, sinh năm 1973; địa chỉ: Thôn A, xã T, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập: Ông Hà Tiên P1, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn A, xã T, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
  4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác:
    1. Bà Hà Thị C; địa chỉ: Thôn A, xã T, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
    2. Ông Hà Tiên A, sinh năm 1971; địa chỉ: Thôn A, xã T, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
    3. Bà Hà Thị Đ, sinh năm 1965; địa chỉ: Thôn F, xã T, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
    4. Bà Hà Thị D, sinh năm 1972; địa chỉ; Thôn A, xã T, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
  5. Người kháng cáo: bị đơn ông Hà Tiên V.

NHẬN THẤY:

* Nguyên đơn ông Hà Tiên P trình bày:

Cha, mẹ ông sinh được 06 người con, gồm Hà Thị C, Hà Tiên P, Hà Tiên A, Hà Thị Đ, Hà Thị D và Hà Tiên V. Cha ông mất năm 1998, anh, chị em ông đều đã lập gia đình và ra ở riêng. Ngày 20/11/2006 mẹ ông được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà Nguyễn Thị L, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 174043 số vào sổ cấp giấy 01496(H) STT 1644, thửa đất số 242, tờ bản đồ số 21, diện tích 627,5m², địa chỉ thửa đất: Thôn A, xã T, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Ngày 22/9/2008 mẹ ông tặng cho con trai ông là Hà Tiên P1 một phần diện tích đất 140m² (trong đó có 132m² đất ở và 8m² đất CLN) trong số diện tích đất được cấp nêu trên. hà Tiến Phước đã đăng ký quyền sử dụng đất và đã được cấp giấy chứng nhận số AL 606544 số vào sổ cấp giấy chứng nhậnH 00046/HDD893 ngày 14/10/2008 với diện tích đất 140m² mà mẹ ông (bà L) tặng cho nêu trên. Năm 2022, ông V khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho và hủy giấy chứng nhận đã cấp cho con ông là Hà Tiên P1, tuy nhiên qua xét xử, tại bản án dân sự sơ của Tòa án nhân dân thị xã An Khê tỉnh Gia Lai (Bản án số: 02/2022/DS-ST ngày 16/02/2022 có hiệu lực pháp luật) yêu cầu của ông V đã không được Tòa án chấp nhận. Hiện nay giấy chứng nhận của Hà Tiên P1 vẫn còn giá trị pháp lý, tuy nhiên trên thửa đất này có căn nhà cấp IV của mẹ ông để lại hiện nay chưa được khai nhận thừa kế và chưa được phân chia. Ông yêu cầu phân chia ông V phản đối không đồng ý.

Nay ông khởi kiện yêu cầu Tòa án xét xử:

Thứ nhất: chia di sản thừa kế là căn nhà cấp IV trên thửa đất số 242, tờ bản đồ số 21, diện tích 140m² (trong đó có 132m² đất ở và 8m² đất CLN) địa chỉ: Thôn A, xã T, thị xã A, tỉnh Gia Lai, theo giấy chứng nhận cấp cho con tôi là Hà Tiên P1 số AL 606544 số vào sổ cấp giấy chứng nhận H00046/HDD893 ngày 14/10/2008.

Thứ hai: ông xin nhận nhà trên và thanh toán lại cho các đồng thừa kế khác theo giá trị.

* Bị đơn ông Hà Tiên V trình bày:

Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông P, lý do: đây nhà nhà của mẹ để lại dùng cho thờ cúng không ai được mua bán nhà đó, ai đến ở thì tu bổ thêm không được bán, chia. Ông không đồng ý tháo dỡ mái tole và phá nền xi măng, đây là phần tôi xây dựng để làm đẹp thêm nơi thờ cúng, không có ý định bán, mua nên không đồng ý tháo dỡ.

Khi xây dựng nhà đó tất cả anh chị em ông đã riêng tư hết, không ai liên quan mảnh đất đó, chỉ còn ông theo mẹ ở đó, ông nuôi mẹ và xây dựng trên mảnh đất đó, theo ông không ai có quyền phân chia gì căn nhà đó, không ai được quyền phân chia, chỉ để thờ cúng. Anh chị em không ai có quyền gì hưởng di sản căn nhà đó. Ông không tranh giành gì cho tôi hoặc con ông. Đây là ý nguyện của mẹ ông khi còn sống và có ghi cả trong “Giấy cam kết”, anh chị em ai cũng biết, nay ông P yêu cầu phân chia là trái với đạo đức, trái với pháp luật nên ông không đồng ý.

* Người có quyền lợi liên quan có yêu cầu độc lập trong đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa anh Hà Tiên P1 trình bày:

Anh yêu cầu ông V phải tháo dỡ mái hiên và nền xi măng xây trên phần đất thuộc quyền sử dụng của anh tại thửa đất số 242, tờ bản đồ số 21, địa chỉ đất tại Thôn A, xã T, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Việc ngày 28/10/2020 ông V ở bên đất anh tự ý làm mái hiên, láng nền xi măng trên diện tích đất được cấp cho anh mà không có ý kiến đồng ý của anh là bất hợp pháp. Anh yêu cầu Tòa buộc ông V phải tháo dỡ mái hiên và phá nền láng xi măng khỏi đất. Còn ngôi nhà cấp IV của bà nội anh (bà L) trên đất anh, anh đồng ý mua lại căn nhà theo giá Hội đồng định giá, thanh toán tiền cho những đồng thừa kế khác. Anh không đồng ý ý kiến của ông V, vì ngôi nhà này xây trên đất đã được cấp quyền sử dụng cho anh, không thể không phân chia được. Nếu ông V muốn giữ lại nhà làm nhà thờ cúng thì anh sẵn sàng chuyển nhượng lại quyền sử dụng đất của anh với giá 370.000.000đ cho ông V, để ông V giữ lại nhà làm nhà thờ cúng.

* Người có quyền lợi liên quan ông Hà Tiên A trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày 15/6/2023:

Nhà và đất tại thôn A, xã T, thị xã A, Gia Lai trong vụ án tranh chấp chia thừa kế này là tài sản của mẹ ông bà Nguyễn Thị L để lại, bà đã tặng cho Hà Tiên P1, do đó đây là tài sản anh P1, anh P1 muốn sử dụng như thế nào là quyền của anh P1, ông không đồng ý phân chia. Nếu Tòa án xác định căn nhà này là di sản thừa kế và phân chia, ông xin từ chối nhận di sản, các đồng thừa kế khác muốn chia như thế nào thì chia, ông không có ý kiến gì. Ông đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt tôi.

* Những người có quyền lợi liên quan không có yêu cầu độc lập khác gồm:

Bà Hà Thị C, bà Hà Thị Đ, Hà Thị D mặt dù đã được Tòa án thông báo thụ lý vụ án, thông báo hòa giải, và triệu tập đến tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không lý do không có lời khai trong hồ sơ vụ án.

Tại phiên tòa sơ thẩm ông P xin thay đổi một phần nội dung yêu cầu khởi kiện, ông chỉ yêu cầu Tòa chia di sản thừa kế là căn nhà cấp IV trên thửa đất số 242, tờ bản đồ số 21, diện tích 140m² (trong đó có 132m² đất ở và 8m² đất CLN) địa chỉ: Thôn A, xã T, thị xã A, tỉnh Gia Lai, theo giấy chứng nhận cấp cho Hà Tiên P1 ngày 14/10/2008. Ông xin nhận giá trị di sản bằng tiền.

Đối với yêu cầu buộc ông V tháo dỡ mái hiên và nền xi măng, ông P cho biết đây là quyền của ông P1, nên ông không yêu cầu giải quyết theo đơn khởi kiện (bổ sung) đề ngày 08/12/2022.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 08/2024/DSST ngày 28 tháng 02 năm 2024, Tòa án nhân dân thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai đã quyết định:Căn cứ khoản 1 Điều 5, khoản 2, 3, 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 92, Khoản 1 Điều 147, Các điều 157, 165, khoản 1, Điều 244, khoản 1 Điều 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 609, 613, 630, 631, 632, 645, 649, 650, điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 651, khoản 2 Điều 660 BLDS 2015; Điều 166, 167; khoản 1 Điều 203 Luật đất đai 2013; điểm d khoản 1 Điều 10 Luật nhà ở 2014; khoản 3 Điều 24, khoản 5 Điều 26, điểm b khoản 2, điểm a, b khoản 3, điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hà Tiên P về việc: chia di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị L theo quy định của pháp luật.

    Xác định di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị L là: 01 căn nhà cấp IV diện tích 27m² (trong đó có phần diện tích 24,7m² nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh Hà Tiên P1 và 2,3m² nằm ngoài Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh Hà Tiên P1) và 01 nhà bếp diện tích 9,2m² (trong đó có phần diện tích 8,2m² nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh Hà Tiên P1 và 01m² nằm ngoài Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh Hà Tiên P1), trên thửa đất số 242, tờ bản đồ số 21, địa chỉ tại: Thôn A, xã T, thị xã A, tỉnh Gia Lai, đã được UBND thị xã A cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Hà Tiên P1 ngày 14/10/2008;

    Xác định giá trị di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị L để lại thành tiền là: 7.982.180đ (Bảy triệu chín trăm tám mươi hai nghìn một trăm tám mươi đồng);

    Xác định danh sách những người thừa kế theo pháp luật hàng thừa kế thứ nhất của bà Nguyễn Thị L gồm: ông Hà Tiên P, Hà Tiên A, Hà Thị C, Hà Thị Đ, Hà Thị D, H.

    Ghi nhận sự tự nguyện không hưởng thừa kế di sản của ông Hà Tiên A

    Chia giá trị di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị L cho các đồng thừa kế gồm: ông Hà Tiên P, Hà Thị C, Hà Thị Đ, Hà Thị D, H, theo pháp luật, tương ứng mỗi người được nhận phần giá trị tính thành tiền là: 1.596.436đ.

  2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Hà Tiên P1 về việc:

    2.1 Buộc ông Hà Tiên V tháo dỡ phần mái hiên có diện tích 24m² xây dựng trên phần đất thuộc thửa đất số 242, tờ bản đồ số 21, địa chỉ tại: Thôn A, xã T, thị xã A, tỉnh Gia Lai của anh Hà Tiên P1 (đã được UBND thị xã A cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Hà Tiên P1 ngày 14/10/2008).

    2.2 Chấp nhận yêu cầu về việc xin nhận căn nhà là di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị L đã xây dựng trên phần diện tích đất của anh Hà Tiên P1.

    + Giao anh Hà Tiên P1 được nhận sở hữu: 01 căn nhà cấp IV có phần diện tích 24,7m² và 01 nhà bếp có phần diện tích 8,2m² nằm trong thửa đất số 242, tờ bản đồ số 21, địa chỉ tại: Thôn A, xã T, thị xã A, tỉnh Gia Lai, đã được UBND thị xã A cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Hà Tiên P1 ngày 14/10/2008; Đối với phần diện tích 2,3m² nhà cấp IV và phần nhà bếp có diện tích 01m² cùng 01 đanh bê tông kích thước (0,9 x 0,23)m và 01 đanh gạch kích thước (1,2 x 0,25)m gắn trên tường nhà cấp IV và tường nhà bếp nêu trên, được xây dựng nằm ngoài Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh Hà Tiên P1, do đó anh Hà Tiên P1 có trách nhiệm tháo dỡ phần diện tích này trả lại phần đất cho ông Hà Tiên V.

    Anh Hà Tiên P1 có trách nhiệm thanh toán cho các đồng thừa kế: gồm: ông Hà Tiên P, Hà Thị C, Hà Thị Đ, Hà Thị D, H, theo pháp luật, tương ứng mỗi người được nhận phần giá trị tính thành tiền là: 1.596.436đ (Một triệu năm trăm chín mươi sáu nghìn bốn trăm ba mươi sáu đồng).

    + Giao cho anh P1 nhận sở hữu toàn bộ các cây trồng trên thửa đất số 242, tờ bản đồ số 21, anh Hà Tiên P1 phải thanh toán cho ông Hà Tiên V giá trị cây trồng trên đất là 3.788.000đ;

  3. Không chấp nhận yêu cầu của anh Hà Tiên P1 về việc buộc ông Hà Tiên V phá dỡ sân bê tông có diện tích 21,61m², mà giao cho anh Hà Tiên P1 được nhận sở hữu phần sân bê tông có diện tích 21,61m² trên thửa đất số 242, tờ bản đồ số 21, địa chỉ tại: Thôn A, xã T, thị xã A, tỉnh Gia Lai của anh P1. Anh Hà Tiên P1 phải thanh toán cho ông Hà Tiên V giá trị phần sân bê tông này là: 3.600.226đ (Ba triệu sáu trăm nghìn hai trăm hai mươi sáu đồng);

    (Diện tích, kích thước, vị trí cụ thể của phần nhà, đất, sân bê tông theo Sơ đồ hiện trạng đất, tranh chấp do Hội đồng xem xét thực tế, thẩm định tại chỗ lập ngày 08/11/2023 kèm theo bản án này).

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng, án phí dân sự sơ thẩm, quyền kháng cáo của các đương sự.

* Kháng cáo: Ngày 05 tháng 3 năm 2024, bị đơn ông Hà Tiên V kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm buộc ông Hà Tiên P1 phải thanh toán giá trị phần mái hiên có diện tích xây dựng 24m² trên phần đất thuộc thửa đất số 242, tờ bản đồ số 21, địa chỉ tại: Thôn A, xã T, thị xã A, tỉnh Gia Lai với số tiền 10.200.000 đồng.

* Diễn biến tại phiên toà phúc thẩm:

Nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập không rút đơn khởi kiện, bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

XÉT THẤY:

  1. Đơn kháng cáo của ông Hà Tiên V trong thời hạn quy định của pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
  2. Mặc dù biết thửa đất số 242, tờ bản đồ số 21, địa chỉ: thôn A, xã T, thị xã A, tỉnh Gia Lai thuộc quyền sử dụng của anh Hà Tiên P1 nhưng ông Hà Tiên V vẫn tự ý xây dựng mái hiên và làm sân bê tông trên đó mà không được sự đồng ý của chủ sử dụng đất. Do đó chủ sử dụng đất anh Hà Tiên P1 khởi kiện yêu cầu buộc ông V phải tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng để trả lại nguyên hiện trạng đất là có căn cứ pháp luật. Tuy nhiên, đối với phần sân bê tông đã được xây dựng kiên cố, việc buộc tháo dỡ sẽ không còn giá trị sử dụng nên Tòa án cấp sơ thẩm quyết định giao cho anh P1 được nhận sở hữu và phải thanh toán giá trị phần sân này cho ông V là hợp tình, hợp lý. Đối với phần mái hiên thì có thể thực hiện việc tháo dỡ mà vẫn không làm mất đi giá trị sử dụng, do vậy cấp sơ thẩm buộc ông V phải tháo dỡ là phù hợp và đúng quy định của pháp luật. Ông V kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ mới, do vậy Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
  4. Căn cứ khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự, người kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

  1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Hà Tiên V.
  2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 08/2024/DS-ST ngày 28 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai.
  3. Căn cứ khoản 1 Điều 5, khoản 2, 3, 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 92, Khoản 1 Điều 147, Các điều 157, 165, khoản 1, Điều 244, khoản 1 Điều 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 609, 613, 630, 631, 632, 645, 649, 650, điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 651, khoản 2 Điều 660 BLDS 2015; Điều 166, 167; khoản 1 Điều 203 Luật đất đai 2013; điểm d khoản 1 Điều 10 Luật nhà ở 2014; khoản 3 Điều 24, khoản 5 Điều 26, điểm b khoản 2, điểm a, b khoản 3, điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
    1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hà Tiên P về việc: chia di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị L theo quy định của pháp luật.

      Xác định di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị L là: 01 căn nhà cấp IV diện tích 27m² (trong đó có phần diện tích 24,7m² nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh Hà Tiên P1 và 2,3m² nằm ngoài Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh Hà Tiên P1) và 01 nhà bếp diện tích 9,2m² (trong đó có phần diện tích 8,2m² nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh Hà Tiên P1 và 01m² nằm ngoài Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh Hà Tiên P1), trên thửa đất số 242, tờ bản đồ số 21, địa chỉ tại: Thôn A, xã T, thị xã A, tỉnh Gia Lai, đã được UBND thị xã A cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Hà Tiên P1 ngày 14/10/2008;

      Xác định giá trị di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị L để lại thành tiền là: 7.982.180đ (Bảy triệu chín trăm tám mươi hai nghìn một trăm tám mươi đồng);

      Xác định danh sách những người thừa kế theo pháp luật hàng thừa kế thứ nhất của bà Nguyễn Thị L gồm: ông Hà Tiên P, Hà Tiên A, Hà Thị C, Hà Thị Đ, Hà Thị D, H.

      Ghi nhận sự tự nguyện không hưởng thừa kế di sản của ông Hà Tiên A

      Chia giá trị di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị L cho các đồng thừa kế gồm: ông Hà Tiên P, Hà Thị C, Hà Thị Đ, Hà Thị D, H, theo pháp luật, tương ứng mỗi người được nhận phần giá trị tính thành tiền là: 1.596.436đ.

    2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Hà Tiên P1 về việc:

      Buộc ông Hà Tiên V tháo dỡ phần mái hiên có diện tích 24m² xây dựng trên phần đất thuộc thửa đất số 242, tờ bản đồ số 21, địa chỉ tại: Thôn A, xã T, thị xã A, tỉnh Gia Lai của anh Hà Tiên P1 (đã được UBND thị xã A cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Hà Tiên P1 ngày 14/10/2008).

      Chấp nhận yêu cầu về việc xin nhận căn nhà là di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị L đã xây dựng trên phần diện tích đất của anh Hà Tiên P1.

      Giao anh Hà Tiên P1 được nhận sở hữu: 01 căn nhà cấp IV có phần diện tích 24,7m² và 01 nhà bếp có phần diện tích 8,2m² nằm trong thửa đất số 242, tờ bản đồ số 21, địa chỉ tại: Thôn A, xã T, thị xã A, tỉnh Gia Lai, đã được UBND thị xã A cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Hà Tiên P1 ngày 14/10/2008; Đối với phần diện tích 2,3m² nhà cấp IV và phần nhà bếp có diện tích 01m² cùng 01 đanh bê tông kích thước (0,9 x 0,23)m và 01 đanh gạch kích thước (1,2 x 0,25)m gắn trên tường nhà cấp IV và tường nhà bếp nêu trên, được xây dựng nằm ngoài Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh Hà Tiên P1, do đó anh Hà Tiên P1 có trách nhiệm tháo dỡ phần diện tích này trả lại phần đất cho ông Hà Tiên V.

      Anh Hà Tiên P1 có trách nhiệm thanh toán cho các đồng thừa kế: gồm: ông Hà Tiên P, Hà Thị C, Hà Thị Đ, Hà Thị D, H, theo pháp luật, tương ứng mỗi người được nhận phần giá trị tính thành tiền là: 1.596.436đ (Một triệu năm trăm chín mươi sáu nghìn bốn trăm ba mươi sáu đồng).

      Giao cho anh P1 nhận sở hữu toàn bộ các cây trồng trên thửa đất số 242, tờ bản đồ số 21, anh Hà Tiên P1 phải thanh toán cho ông Hà Tiên V giá trị cây trồng trên đất là 3.788.000đ;

    3. Không chấp nhận yêu cầu của anh Hà Tiên P1 về việc buộc ông Hà Tiên V phá dỡ sân bê tông có diện tích 21,61m², mà giao cho anh Hà Tiên P1 được nhận sở hữu phần sân bê tông có diện tích 21,61m² trên thửa đất số 242, tờ bản đồ số 21, địa chỉ tại: Thôn A, xã T, thị xã A, tỉnh Gia Lai của anh P1. Anh Hà Tiên P1 phải thanh toán cho ông Hà Tiên V giá trị phần sân bê tông này là: 3.600.226đ (ba triệu sáu trăm nghìn hai trăm hai mươi sáu đồng);

      Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  4. Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thực tế, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 4.000.000đ, ông Hà Tiên P tạm ứng toàn bộ chi phí này. Buộc ông Hà Tiên P, ông Hà Tiên V mỗi người phải chịu 1.300.000đ chi phí xem xét thực tế, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản; anh Hà Tiên P1 phải chịu 1.400.000đ chi phí xem xét thực tế, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Ông P đã nộp đủ chi phí này.

    Anh Hà Tiên P1 phải hoàn trả cho ông Hà Tiên P 1.400.000đ chi phí xem xét thực tế, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản; Ông Hà Tiên V phải hoàn trả cho ông Hà Tiên P số tiền 1.300.000đ chi phí xem xét thực tế, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản;

  5. Án phí dân sự sơ thẩm:

    Buộc ông Hà Tiên P, Hà Thị C, Hà Thị Đ, Hà Thị D, Hà Tiên V, mỗi người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tính trên giá trị phần di sản được hưởng là 300.000đ;

    Buộc ông Hà Tiên V phải chịu thêm án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ đối với phần yêu cầu của anh Hà Tiên P1 được Tòa án chấp nhận;

    Buộc anh Hà Tiên P1 phải chịu 300.000đ đối với yêu cầu không được Tòa án chấp nhận và án phí đối với phần thanh toán cho ông V (sân bê tông, cây trồng trên đất) là: 369.411đ;

    Ông Hà Tiên P được khấu trừ số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai tạm ứng án phí số 0006556 ngày 02/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã An Khê. Ông P đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. Anh Hà Tiên P1 được khấu trừ số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai tạm ứng án phí số 0006739 ngày 21/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã An Khê. Anh P1 phải nộp thêm 369.411đ án phí dân sự sơ thẩm.

  6. Án phí dân sự phúc thẩm: Buộc ông Hà Tiên V phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0013008 ngày 12/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai; ông V đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
  7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự
  8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh Gia Lai;
  • -TAND thị xã An Khê;
  • -Chi cục THADS thị xã An Khê;
  • -Đương sự;
  • - Lưu Tòa, lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Chí Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2024/DS-PT ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về tranh chấp thừa kế và yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng

  • Số bản án: 55/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế và yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger