Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÒN ĐẤT

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2024/HNGĐ-ST.

Ngày: 14/5/2024

Về việc: “Xin ly hôn và nuôi con chung”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT - TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đặng Thanh Sang

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Hồng Gái

Ông Nguyễn Văn Đoạt

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Diệp - Thư ký TAND huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn đất tham phiên tòa: Bà Trần Phương Thúy – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 112/2024/TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2024 về việc: “Xin ly hôn và nuôi con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2024/QĐST - HNGĐ, ngày 22 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Ngọc T, sinh năm 1986 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: tổ G, ấp H, xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang.

Bị đơn: Anh Danh T1, sinh năm 1983 (Xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: ấp H, xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Phạm Thị Ngọc T trình bày như sau:

- Về hôn nhân: Chị Phạm Thị Ngọc T và anh Danh T1 tự tìm hiểu yêu thương nhau, sau đó được hai bên gia đình đồng ý tổ chức đám cưới theo phong tục truyền thống vào năm 2005, có đăng ký kết hôn và được UBND xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 20/10/2015. Thời gian đầu, vợ chồng sống rất hạnh phúc, nhưng đến đầu năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi nên anh chị đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể hàn gắn được. Do đó, chị Phạm Thị Ngọc T yêu cầu được ly hôn với anh Danh T1.

- Về con chung: Chị Phạm Thị Ngọc T và anh Danh T1 có 04 người con chung tên Danh Thị Ngọc T2, sinh ngày 26/12/2006; Danh Thị Ngọc C, sinh ngày 13/8/2008; Danh Quy, sinh ngày 14/11/2010 và Danh Q, sinh ngày 20/8/2012 hiện đang ở với chị T. Sau khi ly hôn chị Phạm Thị Ngọc T yêu cầu được nuôi dưỡng 04 người con chung đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Chị Phạm Thị Ngọc T và anh Danh T1 không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết;

- Về nợ chung: Chị Phạm Thị Ngọc T và anh Danh T1 không có nợ ai và cũng không cho ai vay nợ nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại biên bản ghi lời khai ngày 22/3/2024 anh Danh T1 trình bày như sau:

- Về hôn nhân: Anh Danh T1 và chị Phạm Thị Ngọc T và tự tìm hiểu yêu thương nhau, có đăng ký kết hôn và được UBND xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 20/10/2015. Thời gian đầu, vợ chồng sống rất hạnh phúc, nhưng thời gian sau thì xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi nên đến năm 2019 do mâu thuẫn nên anh T1 và chị T đã ly thân cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể hàn gắn được. Do đó, chị Phạm Thị Ngọc T yêu cầu được ly hôn với anh Danh T1 thì anh T1 đồng ý ly hôn.

- Về con chung: Anh Danh T1 và chị Phạm Thị Ngọc T có 04 người con chung tên Danh Thị Ngọc T2, sinh ngày 26/12/2006; Danh Thị Ngọc C, sinh ngày 13/8/2008; Danh Quy, sinh ngày 14/11/2010 và Danh Q, sinh ngày 20/8/2012 hiện đang ở với chị T. Sau khi ly hôn anh T1 đồng ý giao 04 người con chung cho chị T nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành và anh không cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Anh Danh T1 và chị Phạm Thị Ngọc T không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết;

- Về nợ chung: Anh Danh T1 và chị Phạm Thị Ngọc T không có nợ ai và cũng không cho ai vay nợ nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang có ý kiến phát biểu:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử sơ thẩm và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ khoản Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014nghị ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Thị Ngọc T và anh Danh T1.

Về con chung: Giao cho chị Phạm Thị Ngọc T được trực tiếp nuôi dưỡng 04 người con chung tên Danh Thị Ngọc T2, sinh ngày 26/12/2006; Danh Thị Ngọc C, sinh ngày 13/8/2008; Danh Quy, sinh ngày 14/11/2010 và Danh Q, sinh ngày 20/8/2012 cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Anh Danh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung

Về tài sản và nợ chung: Chị Phạm Thị Ngọc T và anh Danh T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xét.

Về án phí: Chị Phạm Thị Ngọc T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định vụ án này như sau:

  1. Về thẩm quyền: Theo nội dung đơn xin ly hôn của chị Phạm Thị Ngọc T thì đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại ấp H, xã T, huyện H nên quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 vụ án thuộc thẩm giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất.
  2. Về thủ tục tố tụng: Chị Phạm Thị Ngọc T và anh Danh T1 có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại các Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
  3. Về nội dung vụ án:
    1. Về hôn nhân: Chị Phạm Thị Ngọc T và anh Danh T1 là vợ chồng hợp pháp do có đăng ký kết hôn và được UBND xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 20/10/2015. Điều đó phù hợp với Giấy chứng nhận kết hôn của chị T và anh T1 mà chị T đã giao nộp tại hồ sơ vụ án. Nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

      Quá trình chung sống giữa chị Phạm Thị Ngọc T và anh Danh T1 phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau. Đến đầu năm 2019 anh chị sống ly thân cho đến nay, mỗi người có cuộc sống riêng và cũng không còn liên hệ, gặp gỡ hay hàn gắn tình cảm vợ chồng. Điều này đã được chị T và anh T1 thừa nhận. Nay chị T yêu cầu ly hôn thì anh T1 cũng đồng ý, không có nguyện vọng hàn gắn tình cảm vợ chồng. Vì vậy, căn cứ Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình xét thấy hôn nhân ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Thị Ngọc T và anh Danh T1.

    2. Về con chung: Chị Phạm Thị Ngọc T và anh Danh T1 có 04 người con chung tên Danh Thị Ngọc T2, sinh ngày 26/12/2006; Danh Thị Ngọc C, sinh ngày 13/8/2008; Danh Quy, sinh ngày 14/11/2010 và Danh Q, sinh ngày 20/8/2012 hiện đang ở với chị T. Chị T có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng các con đến tuổi trưởng thành. Hội đồng xét xử thấy rằng cháu T2, C, Q1, Q2 từ trước đến nay đều sống với chị T, do chị T chăm sóc, nuôi dưỡng, đồng thời theo bản tự khai ngày 22/3/2024 cháu T2, C, Q1, Q2 đều có nguyện vọng được sống với mẹ (chị T) khi cha mẹ ly hôn và anh T1 cũng đồng ý với yêu cầu này của chị T nên Hội đồng xét chấp nhận yêu cầu của chị T.
    3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Phạm Thị Ngọc T không yêu cầu anh Danh T1 cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy đây là sự tự nguyện của chị T nên Hội đồng xét xử ghi nhận và không xét.
    4. Về tài sản chung: Chị Phạm Thị Ngọc T và anh Danh T1 không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xét.
    5. Về nợ chung: Chị Phạm Thị Ngọc T và anh Danh T1 không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xét.
    6. Về án phí hôn nhân và gia đình: Chị Phạm Thị Ngọc T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 271, Điều 277, Điều 278 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Khoản 1 Điều 51, Điều 55; Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

* Tuyên Xử:

  1. Về hôn nhân: Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Thị Ngọc T và anh Danh T1.
  2. Về con chung: Giao cho chị Phạm Thị Ngọc T được trực tiếp nuôi dưỡng 04 người con chung tên Danh Thị Ngọc T2, sinh ngày 26/12/2006; Danh Thị Ngọc C, sinh ngày 13/8/2008; Danh Quy, sinh ngày 14/11/2010 và Danh Q, sinh ngày 20/8/2012 cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi.

    Đối với nghĩa vụ cấp dưỡng: Anh Danh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

    Anh Danh T1 có quyền được thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản theo quy định của pháp luật.

  3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Phạm Thị Ngọc T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng. Đối trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0007120 ngày 13/3/2024 Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Theo đó chị Phạm Thị Ngọc T không phải nộp thêm.
  4. Quyền kháng cáo: Báo cho nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TA tỉnh Kiên Giang;
  • - VKS nhân dân huyện Hòn Đất;
  • - UBND xã Thổ Sơn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Đặng Thanh Sang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2024/HNGĐ-ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT - TỈNH KIÊN GIANG về xin ly hôn và nuôi con chung

  • Số bản án: 55/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn và nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT - TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger