|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 55/2024/HNGĐ-ST
Ngày 13-8-2024
“V/v Tranh chấp về hôn nhân và gia đình - ly hôn, nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Nguyễn Phú Hữu.
- 2. Ông Huỳnh Văn Kiều.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ Hải là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 13 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 126/2024/TLST-HNGĐ, ngày 01 tháng 7 năm 2024, về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 391/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 08 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự.
Nguyên đơn: Dương Ngọc N, sinh năm 1991.
Địa chỉ: Số nhà B, tổ A, ấp T, xã N, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Bị đơn: Phạm Thanh X, sinh năm 1989.
Địa chỉ: Tổ B, khóm C, Phường F, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
(Chị N, anh X đều có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn là Dương Ngọc N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh X kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh Đồng Tháp và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 044/2015, ngày 03/6/2015.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng thời gian sau thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không còn quan tâm lẫn nhau, anh X thường xuyên nhậu say, không tôn trọng chị N và gia đình chị N. Mặc dù đã tìm cách hàn gắn tình cảm nhiều lần nhưng không thành. Vợ chồng ly thân, sống xa nhau từ khoảng 02/2024 đến nay. Nhận thấy, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay chị Dương Ngọc N yêu cầu được ly hôn với anh Phạm Thanh X.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Phạm Thị Thanh Đ, sinh ngày 19/10/2022. Hiện con chung đang sống với chị N. Sau khi ly hôn chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh X cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn là Phạm Thanh X trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh X thống nhất lời trình bày của chị N về thời gian kết hôn, chung sống, cũng như mâu thuẫn gia đình, anh X có nhậu nhưng hiện đã bỏ rồi, vợ chồng có cãi nhau. Vợ chồng ly thân, sống xa nhau từ khoảng 02/2024 đến nay. Nay anh X không đồng ý ly hôn với chị N, lý do anh X mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị N để cùng nhau nuôi con.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Phạm Thị Thanh Đ, sinh ngày 19/10/2022. Hiện con chung đang sống với chị N. Sau khi ly hôn, anh X yêu cầu được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng nguyên đơn là chị Dương Ngọc N yêu cầu được ly hôn với anh Phạm Thanh X và yêu cầu được nuôi con chung nên xác định đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn là Phạm Thanh X có nơi cư trú tại Tổ B, khóm C, Phường F, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh X tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh Đồng Tháp và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 044/2015, ngày 03/6/2015 là hôn nhân hợp pháp.
Theo khoản 1 Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình, quy định như sau:
“Điều 19. Tình nghĩa vợ chồng
1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.”
Tại phiên tòa, chị N trình bày, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng thời gian sau thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không còn quan tâm lẫn nhau, anh X thường xuyên nhậu say, không tôn trọng chị N và gia đình chị N. Mặc dù đã tìm cách hàn gắn tình cảm nhiều lần nhưng không thành. Vợ chồng ly thân, sống xa nhau từ khoảng 02/2024 đến nay. Nhận thấy, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay chị Dương Ngọc N yêu cầu được ly hôn với anh Phạm Thanh X.
Tại phiên tòa, chị N vẫn kiên quyết giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với anh Phạm Thanh X.
Tại phiên tòa, anh X thống nhất lời trình bày của chị N về thời gian kết hôn, chung sống, cũng như mâu thuẫn gia đình, anh X có nhậu nhưng hiện đã bỏ rồi, vợ chồng có cãi nhau. Vợ chồng ly thân, sống xa nhau từ khoảng 02/2024 đến nay. Nay anh X không đồng ý ly hôn với chị N, lý do anh X mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị N để cùng nhau nuôi con.
Xét thấy, trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc, không tôn trọng nhau, không giúp đỡ nhau; chị N và anh X đã ly thân từ tháng 02/2024 đến nay, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được và Tòa án đã tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng không thành và tại phiên tòa chị N vẫn kiên quyết giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với anh Phạm Thanh X; vợ chồng vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau, không tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Xét, hôn nhân giữa chị N và anh X đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, chị Dương Ngọc N yêu cầu được ly hôn với anh Phạm Thanh X là có căn cứ nên chấp nhận.
[2.2] Về con chung: Chị N và anh X có 01 con chung tên Phạm Thị Thanh Đ, sinh ngày 19/10/2022. Hiện con chung đang sống với chị N. Sau khi ly hôn chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh X cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh X trình bày, sau khi ly hôn, anh X yêu cầu được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét thấy, con chung đang sống với chị N đã ổn định từ tháng 02/2024 đến nay và con chung là Phạm Thị Thanh Đ, sinh ngày 19/10/2022, hiện con chung dưới 36 tháng tuổi.
Theo khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, quy định như sau:
“Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”
Theo quy định nêu trên, để đảm bảo điều kiện sống tốt nhất về mọi mặt của con chung nên cần thiết giao con chung là Phạm Thị Thanh Đ cho chị N tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng.
Căn cứ vào Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình, chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Phạm Thị Thanh Đ là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu nên không xem xét.
Đối với yêu cầu, trình bày của anh X như đã phân tích nêu trên là không có căn cứ nên không chấp nhận.
[2.3] Về tài sản chung: Không yêu cầu nên không xem xét.
[2.4] Về nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Dương Ngọc N phải chịu án phí về hôn nhân theo khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Anh Phạm Thanh X không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
[4] Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 19, 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu của chị Dương Ngọc N.
Không chấp nhận yêu cầu của anh Phạm Thanh X.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Ngọc N được ly hôn với anh Phạm Thanh X.
2. Về con chung: Chị Dương Ngọc N được tiếp tục nuôi con chung tên Phạm Thị Thanh Đ, sinh ngày 19/10/2022, hiện con chung đang sống với chị N.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu nên không xem xét.
3. Về tài sản chung: Không yêu cầu nên không xem xét.
4. Về nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Dương Ngọc N phải chịu 300.000 đồng án phí về hôn nhân nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009967, ngày 01/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh. Như vậy chị Dương Ngọc N đã nộp xong án phí về hôn nhân.
Anh Phạm Thanh X không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
6. Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Thanh Hiền |
Bản án số 55/2024/HNGĐ-ST ngày 13/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về hôn nhân và gia đình - ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 55/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình - ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn, nuôi con
