Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BA TRI -TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2024/HNGĐ-ST

Ngày 13-5-2024

V/v “ Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hồng Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Hồng Vân.

2/ Bà Võ Thị Hiền.

- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Kim Loan– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Tri.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Tiến – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình đã thụ lý số: 59/2024/TLST- HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2024 về việc “Ly hôn,” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2024/QÐST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Văn Hoàng V, sinh năm 1975 (có mặt);

Địa chỉ: ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.

2. Bị đơn: Chị Hồ Thị Hiếu E, sinh năm 1979 (vắng mặt);

Địa chỉ: ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 01/02/2024, trong quá trình tố tụng nguyên đơn anh Văn Hoàng V trình bày:

Anh và chị Hồ Thị H Em được mai mối rồi tiến đến tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A vào ngày 07/11/2005. Sau khi cưới, anh và chị H Em chung sống khoảng 02 tháng; do anh và chị H cự cải nên không chung sống với nhau. Anh và chị Hiếu E có ra Ủy ban nhân dân xã A nhờ Ủy ban chứng kiến để đôi bên ly hôn. Từ đó đến nay, anh và chị Hiếu E có cuộc sống riêng tư. Do anh nghĩ, anh và chị H Em ra Ủy ban nhân dân xã nhờ chứng kiến là xong nhưng khi làm giấy tờ thì phát hiện còn giấy chứng nhận kết hôn. Để không còn liên quan hôn nhân với chị Hiếu E nên anh yêu cầu ly hôn với chị Hiếu E.

Về con chung: Anh và chị Hiếu E không có.

Tài sản chung, nợ chung: Anh và chị Hiếu E không có.

* Theo biên bản lấy lời khai và đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt ngày 14/3/2024 bị đơn chị Hồ Thị H Em trình bày:

Chị không nhớ kết hôn với anh Văn Hoàng V năm nào, chỉ nhớ khi đó chị 2 tuổi; thời gian lâu chị không nhớ chị và anh V có đăng ký kết hôn không. Sau lễ cưới, chị và anh V chung sống được khoảng 02 tháng thì đôi bên xảy ra mâu thuẫn nên không chung sống với nhau nữa. Chị không chịu về chung sống với anh V nên anh V đòi vàng cưới, tiền bạc chợ lại; chị đồng ý trả. Khi trả vàng tiền bạc chợ là trả tại Ủy ban nhân dân xã. Sau đó, chị và anh V không tới lui nữa. Chị và anh V không còn liên quan với nhau nên chị đồng ý ly hôn. Chị và anh V không có con chung, tài sản nợ chung không có. Chị xin không đến Tòa án, chị yêu cầu giải quyết vắng mặt của chị.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri trình bày quan điểm: Về tố tụng, Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự thủ tục. Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự thủ tục phiên tòa. Đối với đương sự, nguyên đơn thực hiện đúng quyền nghĩa vụ; bị đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Về quan điểm giải quyết vụ án: Anh Văn Hoàng V và chị Hồ Thị H Em có đăng ký kết hôn đúng quy định tại Ủy ban nhân dân xã A vào ngày 07/11/2005 nên hôn nhân là hợp pháp. Trong quá trình chung sống, đôi bên phát sinh mâu thuẫn và đã sống ly thân từ năm 2006 đến nay; thời gian sống ly thân quá lâu, tình cảm phai nhạt, khó hàn gắn nên anh V yêu cầu ly hôn chị Hiếu E cũng đồng ý. Xét mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của anh V là có cơ sở. Về con chung: không có. Căn cứ Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị chấp nhận yêu cầu của anh V về việc yêu cầu ly hôn với chị Hiếu E. Tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Án phí đương sự nộp theo quy định.

Từ các lời trình bày trên;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về tố tụng: Bị đơn chị Hồ Thị Hiếu E có đơn xin giải quyết vắng mặt. Do đó, việc đưa vụ án ra xét xử vắng mặt chị Hiếu E là phù hợp với quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Văn Hoàng V và chị Hồ Thị H Em kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A vào ngày 07/11/2005 nên quan hệ hôn nhân giữa anh V và chị Hiếu E là hợp pháp. Qua xác minh tại địa phương và trình bày của chị Hiếu E đã xác định tên đúng của chị Hiếu E là Hồ Thị Hiếu E, sinh năm 1979 nên việc đăng ký kết hôn có sự nhầm lẫn ghi tên của chị Hồ Thị H Em thành Hồ Thị H. Sau khi kết hôn, anh V và chị H Em chung sống khoảng 02 tháng thì phát sinh mâu thuẫn và đã sống ly thân đến nay. Anh V yêu cầu ly hôn với chị Hiếu E, chị Hiếu E cũng đồng ý ly hôn. Xét tình trạng hôn nhân giữa anh V và chị Hiếu E không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh V đối với chị Hiếu E.

[2] Về con chung: Anh V và chị Hiếu E trình bày không có.

[3] Tài sản chung: Anh V và chị Hiếu E trình bày không có.

[4] Về nợ chung: Anh V và chị Hiếu E trình bày không có.

[5] Xét quan điểm đề nghị giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) anh Văn Hoàng V phải nộp theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Văn Hoàng V đối với chị Hồ Thị Hiếu E.
  2. Con chung: Anh V và chị Hiếu E trình bày không có.
  3. Tài sản chung: Anh V và chị Hiếu E trình bày không có.
  4. Nợ chung: Anh V và chị Hiếu E trình bày không có.
  5. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) anh Văn Hoàng V phải nộp và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0004062 ngày 05 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri. Án phí anh V đã nộp xong.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Bến Tre;
  • - VKSND huyện Ba Tri;
  • - Chi cục THADS huyện Ba Tri;
  • - UBND xã An Hòa Tây;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hồng Hạnh

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2024/HNGĐ-ST ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE về ly hôn

  • Số bản án: 55/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger