Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2024/HNGĐ-ST

Ngày 12-6-2024

V/v Tranh chấp về hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đông Giang

Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Hoàng Thị Len

- Bà Hoàng Thị Thu Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Sáng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Hải Bằng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 127/2023/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2024/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Lê Thị H, sinh năm 1988

HKTT: Thôn M, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình.

Địa chỉ hiện nay: Sanhiruzu motosumiyoshi 103 quận N thành phố kawasaki tỉnh K, Japan (Nhật Bản).

* Bị đơn: Anh Phạm Văn S, sinh năm 1987

Địa chỉ: Thôn M, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị É, sinh năm 1965

Địa chỉ: Thôn V, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

(Chị H, bà É có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt, anh S có đề nghị không đến tham gia phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại Đơn khởi kiện xin ly hôn, Bản tự khai, Đơn xin ly hôn vắng mặt, Giấy ủy quyền về việc nuôi con; Nguyên đơn - chị Lê Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm Văn S kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình ngày 28/11/2008. Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống hòa thuận đến cuối năm 2017 thì phát sinh mâu thẫn, nguyên nhân mâu thẫn là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, tính cách không hợp nhau khiến tình cảm vợ chồng không còn. Tháng 10/2018, chị đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản và vợ chồng sống ly thân đến nay. Vợ chồng chị đã nhiều lần hàn gắn tình cảm nhưng không thành. Nay chị xác định tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Phạm Văn S.

- Về quan hệ con chung: Chị và anh Phạm Văn S có 02 con chung là Phạm Minh Q, sinh ngày 03/02/2009 và cháu Phạm Ánh D, sinh ngày 28/10/2015, hiện nay cả hai con chung đang ở với anh S. Ly hôn anh S đề nghị giao hai con chung cho chị nuôi dưỡng, chị nhất trí và đề nghị Tòa án giao con chung là cháu Q và cháu D cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng, chị không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con chung. Do chị vẫn còn thời hạn hợp đồng lao động tại Nhật Bản, chưa về Việt Nam để trực tiếp nuôi con chung được, chị ủy quyền cho mẹ đẻ chị là bà Phạm Thị É nuôi con giúp chị trong thời gian chị đi lao động ở nước ngoài. Về cấp dưỡng nuôi con chị và bà É tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về quan hệ tài sản: Chị và anh S không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại biên bản lấy lời khai ngày 07/3/2024; Bị đơn - anh Phạm Văn S trình bày:

Anh không nhất trí ly hôn với chị Lê Thị H, anh yêu cầu chị H phải có mặt tại Tòa án và địa phương thì Tòa án mới giải quyết việc ly hôn đơn phương được. Chị H đơn phương ly hôn nên anh không đến Tòa án để làm việc và không đến tham gia bất cứ phiên tòa nào. Anh hiện nay không đủ kinh tế để nuôi hai con là Phạm Nhật Minh Q1 và Phạm Ánh D, đề nghị Tòa án giao hai con chung cho chị H nuôi dưỡng thì anh mới nhất trí ly hôn. Anh sẽ cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. Anh và chị H không có tài sản chung, không có nợ chung, anh không đề nghị giải quyết.

* Tại Đơn trình bày đề ngày 27/5/2024 - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị É trình bày: Vợ chồng anh S, chị H có 02 con chung là cháu Phạm Nhật Minh Q1, sinh ngày 03/12/2009 và cháu Phạm Ánh D, sinh ngày 28/10/2015. Anh S, chị H ly hôn có quan điểm đề nghị Tòa án giao con chung cho chị H nuôi dưỡng, chị H vẫn còn thời hạn hợp đồng ở nước ngoài chưa về Việt Nam để trực tiếp nuôi con được, chị H ủy quyền cho bà nuôi con giúp chị H, bà đồng ý. Về cấp dưỡng nuôi con giữa bà và chị H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình kết luận quá trình thực hiện tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, đương sự đảm bảo đúng pháp luật và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị H được ly hôn anh Phạm Văn S. Về quan hệ con chung: Giao con chung Phạm Nhật Minh Q1, sinh ngày 03/12/2009 và Phạm Ánh D, sinh ngày 28/10/2015 cho chị Lê Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, không đặt ra giải quyết về cấp dưỡng nuôi con. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Phạm Thị É nuôi con giúp chị H trong thời gian chị H đi lao động ở nước ngoài. Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra giải quyết. Về án phí: Chị Lê Thị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, các quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

* Về tố tụng: Nguyên đơn chị Lê Thị H ở nước ngoài (Nhật Bản), căn cứ vào khoản 3 Điều 35, Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình. Chị H, anh S, bà É đề nghị xét xử vắng mặt hợp lệ, áp dụng khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị H, anh S, bà É.

* Về nội dung:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị H và anh Phạm Văn S kết hôn hợp pháp, có đăng ký kết hôn ngày 28/11/2008 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình. Chị H xác định vợ chồng chị mâu thuẫn trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được và sống ly thân từ năm 2018 đến nay, chị H xin ly hôn, anh S không đồng ý ly hôn nhưng anh S không có biện pháp gì hàn gắn, đoàn tụ mà có quan điểm giao con chung cho chị H nuôi dưỡng thì anh S mới nhất trí ly hôn. Như vậy, thể hiện cuộc sống hôn nhân giữa chị H và anh S không hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng đã kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần xử cho chị Lê Thị H được ly hôn anh Phạm Văn S là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2] Về con chung: Chị H và anh S có 02 con chung là Phạm Nhật Minh Q1, sinh ngày 03/12/2009 và Phạm Ánh D, sinh ngày 28/10/2015. Anh S và chị H đều đề nghị giao con chung cho chị H nuôi dưỡng, cháu Q1, cháu D đều có nguyện vọng được ở với chị H. Vì vậy, cần giao con chung là cháu Q1 và cháu D cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Do chị H đang ở nước ngoài nên không trực tiếp nuôi con được, chị H ủy quyền cho bà Phạm Thị É (mẹ chị H) chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Q1, cháu D đến khi chị H về Việt Nam, bà É nhất trí cần chấp nhận. Chị H, bà É không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con do đó không đặt ra giải quyết là phù hợp quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lê Thị H và anh Phạm Văn S không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy không đặt ra giải quyết.

[4] Về án phí: Chị Lê Thị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị H được ly hôn anh Phạm Văn S.
  2. Về con chung: Giao cho chị Lê Thị H trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Phạm Nhật Minh Q1, sinh ngày 03/12/2009 và Phạm Ánh D, sinh ngày 28/10/2015. Về cấp dưỡng nuôi con: Không đặt ra giải quyết. Chị H, anh S có quyền và nghĩa vụ chăm sóc con chung theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
  3. Chấp nhận sự tự nguyện của bà Phạm Thị É nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Phạm Nhật Minh Q1 và cháu Phạm Ánh D trong thời gian chị H lao động làm ăn ở nước ngoài.

  4. Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
  5. Về án phí: Chị Lê Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chuyển số tiền 300.000 đồng chị H nộp tạm ứng án phí theo Biên lai số 0000029 ngày 31 tháng 10 năm 2023 (do anh Lê Minh H1 nộp thay) tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình sang thi hành án phí.

Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt chị Lê Thị H, anh Phạm Văn S, bà Phạm Thị É. Chị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, anh S, bà É có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Cục THADS tỉnh Thái Bình;
  • - UBND xã Vũ Lễ, huyện Kiến Xương;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu HC-TP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Đã ký

Vũ Đông Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2024/HNGĐ-ST ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp về hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 55/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger