|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM TỈNH BẾN TRE Bản án số: 55/2024/DS-ST Ngày: 10/5/2024 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM – TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Ngọc Diệu
Ông Phạm Thành Đồng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đình Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Thắm – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 411/2023/TLST-DS ngày 06 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp quyền sử dụng đất theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 140/2024/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- 1.1. Ông Đỗ Thành Nhân, sinh năm 1973;
- 1.2. Bà Bùi Thị Lụa, sinh năm 1979;
Cùng nơi cư trú: số nhà 219, ấp Bình Đông A, xã Châu Bình, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
- Bị đơn: Ông Đỗ Thành Dũng, sinh năm 1971. Nơi cư trú: số nhà 375, ấp Bình Đông A, xã Châu Bình, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 3.1. Bà Nguyễn Thị Mành, sinh năm 1972;
- 3.2. Anh Đỗ Chí Tâm, sinh năm 1999;
Cùng nơi cư trú: số nhà 375, ấp Bình Đông A, xã Châu Bình, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
Ông Nhân, bà Lụa, ông Dũng và bà Mành có mặt tại phiên tòa. Anh Tâm vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình tố tụng tại Tòa án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn ông Đỗ Thành Nhân và bà Bùi Thị Lụa trình bày:
Phần đất có diện tích 5.315,7 m² thuộc thửa 132 tờ bản đồ 7 tọa lạc tại xã Châu Bình, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre do ông Đỗ Thành Nhân và bà Bùi Thị Lụa đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nguồn gốc phần đất thửa 132 là của cha mẹ ông Nhân là ông Đỗ Văn Bảnh và bà Nguyễn Thị Ba (có số thửa cũ là 359, 360 tờ bản đồ 3). Năm 2006, ông Bảnh và bà Ba đã chia cho ông Nhân, bà Lụa thửa 359 và một phần thửa 360. Ông Nhân, bà Lụa đã quản lý đất từ năm 2006 nhưng đến năm 2010 mới tiến hành làm thủ tục tặng cho và được Ủy ban nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 11/02/2011 có số thửa mới hiện nay là thửa 132 tờ bản đồ 7.
Ông Đỗ Thành Dũng là anh ruột của ông Đỗ Thành Nhân. Cách đây khoảng 20 năm, vì phần đất của ông Dũng là đất ruộng không thể cất nhà ra riêng được nên ông Dũng có xin cha mẹ là ông Bảnh, bà Ba cất nhà ở nhờ trên vị trí thửa đất 132 nêu trên, khi nào ổn định cuộc sống thì di dời đi; diện tích đất mà ông Dũng, bà Mành cất nhà khoảng 50 m². Tại thời điểm ông Bảnh, bà Ba cho đất cho các con vào năm 2010 thì ông Dũng, bà Mành cũng được cho một phần thửa 360 có diện tích là 1.549,4 m² có số thửa mới là 268 tờ bản đồ 7. Sau khi được cha mẹ cho đất, ông bà vẫn để cho vợ chồng ông Dũng tiếp tục ở trên phần đất này.
Tuy nhiên, trong quá trình ở trên đất, ông Dũng thường xuyên kiếm chuyện chửi bới, ngăn cản không cho ông bà sử dụng đất. Do đó, vào năm 2019 ông bà đã làm đơn yêu cầu lấy lại đất. Tại Ủy ban nhân dân xã Châu Bình, ông Dũng đã xin ông bà cho ông Dũng ở đến hết năm 2022 sẽ di dời nhà qua phần đất của ông Dũng để trả đất lại cho ông bà, không yêu cầu hỗ trợ tiền di dời; ông Dũng còn cam kết giao hết cây trồng trên đất cho ông bà thu hoạch không cản trở. Ông bà cũng đồng ý theo ý kiến của ông Dũng nên hai bên đã thống nhất và cùng ký tên vào biên bản hòa giải ngày 27/12/2019 do Ủy ban nhân dân xã Châu Bình lập và ông đã rút lại đơn kiện ông Dũng. Đến nay, đã hết thời hạn cam kết nhưng ông Dũng vẫn không chịu di dời nhà trả đất mà lại chiếm thêm phần đất xung quanh để sử dụng, không cho ông bà thu hoạch dừa và thách thức ông bà thưa kiện nên hai bên phát sinh tranh chấp.
Theo kết quả đo đạc, phần đất ông Dũng, bà Mành đang sử dụng hiện nay có diện tích là 933,2 m² có ký hiệu thửa 132a. Nay ông bà yêu cầu ông Dũng cùng vợ là bà Nguyễn Thị Mành và các con phải có trách nhiệm di dời nhà đi nơi khác để trả cho ông bà phần đất có diện tích khoảng 933,2 m² có ký hiệu thửa 132a thuộc một phần thửa 132 tờ bản đồ 7 tọa lạc tại xã Châu Bình, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
Trên phần đất tranh chấp hiện nay có 01 căn nhà của ông Dũng, bà Mành đang ở cùng 02 người con; hiện trạng căn nhà: Nhà cây, cột cây, vách lá, mái lợp tole; xung quanh căn nhà ông Dũng có trồng 01 số cây như cau, bưởi ....
Theo biên bản định giá tài sản thì toàn bộ căn nhà cùng vật kiến trúc có trên phần đất tranh chấp của ông Dũng, bà Mành trị giá là 60.063.151 đồng; giá trị toàn bộ cây trồng trên đất của ông Dũng, bà Mành trồng là 14.179.000 đồng (trừ cây trồng là dừa). Nếu ông Dũng, bà Mành tự di dời nhà đi nơi khác thì ông bà hỗ trợ chi phí di dời là 5.000.000 đồng; về cây trồng nếu ông Dũng, bà Mành không di dời thì ông bà đồng ý đền bù theo giá mà Hội đồng định giá đã định.
Phần đất thửa 132 này hiện nay ông bà không có thế chấp vay vốn Ngân hàng, cũng không thực hiện bất kỳ một giao dịch bảo đảm nào khác liên quan đến phần đất thửa 132. Ông bà đồng ý với kết quả đo đạc, kết quả xem xét thẩm định tài sản trên đất; thống nhất giá trị đất và giá trị tài sản trên đất mà Hội đồng định giá đã định.
Theo đơn yêu cầu, lời trình bày trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn ông Đỗ Thành Dũng trình bày:
Ông là anh ruột của ông Đỗ Thành Nhân. Vào năm 1998, ông cưới vợ ra riêng nên cha mẹ ông là ông Đỗ Văn Bảnh và bà Nguyễn Thị Ba có cho vợ chồng ông một phần đất để ra riêng. Khi cho đất không có đo đạc nhưng có xác định vị trí đất, phần đất cha mẹ cho vợ chồng ông có diện tích khoảng 700m². Vợ chồng ông đã cất nhà ở từ năm 1998 đến nay nhưng không tiến hành thủ tục sang tên quyền sử dụng đất. Đến năm 2010, ông Bảnh, bà Ba phân chia đất cho các con; lúc này phần đất vợ chồng ông đang ở ông Bảnh, bà Ba lại cho vợ chồng ông Nhân, bà Lụa. Sau khi ông Bảnh, bà Ba chết thì ông Nhân đã thưa ra Ủy ban nhân dân xã để đòi đất. Tại Ủy ban nhân dân xã Châu Bình, những người chịu trách nhiệm hòa giải ở xã giải thích rằng đất này ông Nhân đã đứng tên nên ông phải trả lại. Do đó, ông đã ký tên vào biên bản hòa giải ngày 27/12/2019 do Ủy ban nhân dân xã Châu Bình lập với nội dung ông sẽ ở đến hết năm 2022 sẽ di dời nhà trả đất, không yêu cầu hỗ trợ tiền.
Theo kết quả đo đạc, phần đất vợ chồng ông đang sử dụng có diện tích là 933,2 m² có ký hiệu thửa 132a (thuộc một phần thửa 132) tờ bản đồ 7 tọa lạc tại xã Châu Bình, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Theo biên bản định giá tài sản thì toàn bộ căn nhà cùng vật kiến trúc có trên đất của vợ chồng ông trị giá là 60.063.151 đồng; giá trị toàn bộ cây trồng trên đất của vợ chồng ông trồng là 14.179.000 đồng (trừ cây trồng là dừa là của nguyên đơn). Nếu ông Nhân, bà Lụa muốn vợ chồng ông di dời nhà trả đất thì phải trả cho vợ chồng ông:
- - Trả giá trị cây trồng trên đất của vợ chồng ông trồng là 14.179.000 đồng (trừ cây trồng là dừa là của nguyên đơn);
- - Trả giá trị căn nhà theo giá mà Hội đồng định giá đã định là 60.063.151 đồng;
- - Trả công sức mà vợ chồng ông đã gìn giữ đất là 156.000.000 đồng. Vợ chồng ông đã ở trên đất 26 năm. Trong quá trình ở trên đất, vợ chồng ông đã dọn cỏ, cải tạo đất bằng phẳng nên ông yêu cầu ông Nhân, bà Lụa phải trả công cho vợ chồng ông bình quân mỗi năm là 6.000.000 đồng (26 năm x 6.000.000đ/1 năm = 156.000.000đ). ông thừa nhận, khi vợ chồng ông về cất nhà ở thì phần đất này ông Bảnh, bà Ba đã lên bờ trồng dừa.
Ông đồng ý với kết quả đo đạc, kết quả xem xét thẩm định tài sản trên đất; thống nhất giá trị đất và giá trị tài sản trên đất mà Hội đồng định giá đã định. Anh Đỗ Chí Tâm là con của ông bà, anh Tâm hiện nay đang đi học xa nên không thể đến Tòa theo giấy mời. Đồng thời, con của ông từ nhỏ đến nay chỉ đi học chứ không có đóng góp gì vào phần đất đang tranh chấp nên quyền quyết định là của vợ chồng ông.
Theo đơn yêu cầu, lời trình bày trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Mành trình bày:
Bà là vợ của ông Đỗ Thành Dũng. Việc ông Dũng thỏa thuận trả đất cho ông Nhân tại Ủy ban nhân dân xã Châu Bình bà không có tham gia và cũng không biết. Sau khi ông Dũng thỏa thuận xong với ông Nhân thì bà mới biết. Việc ông Dũng đồng ý sẽ di dời nhà đi mà không yêu cầu ông Nhân đền bù bà không biết nên không đồng ý. Nay bà thống nhất theo toàn bộ ý kiến và yêu cầu của ông Dũng.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
- - Nguyên đơn ý kiến: Nguyên đơn yêu cầu ông Dũng, bà Mành tự di dời nhà cùng tài sản trên đất và nguyên đơn đồng ý trả cho ông Dũng, bà Mành tổng cộng số tiền là 25.000.000 đồng gồm: giá trị cây trồng là 14.179.000 đồng, hỗ trợ chi phí di dời là 5.000.000 đồng, công sức gìn giữ đất là 5.821.000 đồng.
- - Ông Dũng, bà Mành ý kiến: Ông bà đồng ý tự di dời nhà cùng tài sản trên đất nhưng yêu cầu nguyên đơn trả cho ông bà tổng cộng số tiền là 83.000.000 đồng (bao gồm tiền giá trị cây trồng, chi phí di dời và công sức gìn giữ đất).
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, thư ký và người tham gia tố tụng đã tuân thủ theo quy định của pháp luật. Về nội dung: Tại phiên tòa các bên đương sự đã thống nhất phần đất đang tranh chấp có diện tích là 933,2 m² được ký hiệu thửa 132a (thuộc một phần của thửa 132) tờ bản đồ 7 tọa lạc tại xã Châu Bình, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre là của ông Nhân, bà Lụa. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015, Điều 166 Luật đất đai năm 2013 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông Nhân, bà Lụa; buộc gia đình ông Dũng, bà Mành trả lại đất cho nguyên đơn; ghi nhận số tiền nguyên đơn hỗ trợ chi phí di dời cho gia đình ông Dũng, bà Mành. Tuy nhiên, khi ông Dũng, bà Mành trả đất thì ông Nhân, bà Lụa có trách nhiệm đền bù giá trị cây trồng và xem xét công sức gìn giữ, tu bổ đất cho vợ chồng ông Dũng từ 10-30% theo giá mà Hội đồng định giá đã định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Quan hệ tranh chấp giữa ông Đỗ Thành Nhân, bà Bùi Thị Lụa với ông Đỗ Thành Dũng là tranh chấp về quyền sử dụng đất. Phần đất các bên đang tranh chấp tọa lạc tại xã Châu Bình, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm. Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đỗ Chí Tâm vắng mặt không có lý do; do đó căn cứ theo quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Tâm. Trong quá trình giải quyết vụ án, các bên đương sự thống nhất với kết quả đo đạc, kết quả định giá và các tài liệu chứng cứ khác mà Tòa án đã thu thập được.
[2] Xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Theo kết quả đo đạc đạc thực tế do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Giồng Trôm thực hiện xác định: Phần đất các bên đang tranh chấp có diện tích là 933,2 m² có ký hiệu thửa 132a (thuộc một phần thửa 132) tờ bản đồ 7 tọa lạc tại xã Châu Bình, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre do ông Đỗ Thành Nhân, bà Bùi Thị Lụa đang đứng tên quyền sử dụng đất. Căn cứ theo quy trình cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì thửa 132 tờ bản đồ 7 ông Nhân, bà Lụa được Ủy ban nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 11/02/2011. Nguồn gốc thửa đất này, ông Nhân, bà Lụa nhận tặng cho từ cha mẹ ruột là ông Đỗ Văn Bảnh, bà Nguyễn Thị Ba; việc ông Nhân, bà Lụa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là hợp pháp. Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, ông Dũng, bà Mành cũng thống nhất phần đất tranh chấp là của ông Nhân và bà Lụa và đồng ý di dời nhà trả đất. Do đó, việc ông Nhân và bà Lụa căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để yêu cầu ông Dũng, bà Mành trả lại đất là phù hợp theo quy định tại Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2] Xem xét về tài sản trên đất và yêu cầu công sức của ông Dũng, bà Mành:
Trên phần đất diện tích 933,2 m² hiện nay có 01 căn nhà, vật kiến trúc và 01 số cây trồng của ông Dũng, bà Mành. Theo biên bản định giá tài sản ngày 23/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện Giồng Trôm đã xác định tổng giá trị tài sản trên đất của ông Dũng, bà Mành là 74.242.151 đồng, gồm có:
- - Căn nhà: Nền đất, cột gỗ tạp, vách lá +tole, mái tole tráng kẽm không trần trị giá là 47.083.365 đồng;
- - Chuồng chăn nuôi: nền xi măng, cột bê tông đúc sẵn, vách tường xây lửng, mái lá trị giá là 11.352.960 đồng;
- - Hồ tròn chứa nước trị giá 952.726 đồng;
- - Cây trồng trên đất trị giá là 14.179.000 đồng (trừ cây trồng là dừa là của nguyên đơn).
Nguyên đơn yêu cầu ông Dũng, bà Mành tự di dời nhà và đồng ý hỗ trợ cho ông Dũng, bà Mành số tiền 25.000.000 đồng gồm: chi phí di dời là 5.000.000 đồng, đền bù giá trị cây trồng là 14.179.000 đồng và công sức gìn giữ, tu bổ đất là 5.821.000 đồng; chứng cứ nguyên đơn cung cấp để chứng minh cho yêu cầu của mình là biên bản hòa giải ngày 27/12/2019 do Ủy ban nhân dân xã Châu Bình lập.
Xét thấy, tại biên bản hòa giải ngày 27/12/2019 do Ủy ban nhân dân xã Châu Bình, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre lập giữa ông Nhân với ông Dũng thì ông Dũng đã có ý kiến: “Ông đồng ý di dời nhà qua phần đất của ông đang có QSD. Ông đề nghị đến hết năm 2022 ông sẽ tự nguyện di dời, không yêu cầu hỗ trợ tiền do hiện ông chưa được tuổi làm nhà. Về cây trồng trên đất ông cam kết không gây cản trở giao hết cho ông Nhân, bà Lụa thu hoạch”; ông Dũng thừa nhận chữ ký và nội dung trình bày trong biên bản hòa giải này là của ông nên đây là chứng cứ không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92, 95 Bộ luật Tố tụng dân sự. Xem xét kết cấu căn nhà của ông Dũng, bà Mành có thể di dời cùng thỏa thuận theo biên bản hòa giải ngày 27/12/2019 nên Hội đồng xét xử buộc ông Dũng, bà Mành tự di dời nhà cùng vật kiến trúc trên đất; ghi nhận việc nguyên đơn đồng ý hỗ trợ chi phí di dời 5.000.000 đồng và đền bù giá trị cây trồng là 14.179.000 đồng cho ông Dũng, bà Mành.
Đối với phần công sức gìn giữ, tu bổ đất: Xét thấy, trong thời gian ông Dũng, bà Mành ở trên đất thì nguyên đơn vẫn hưởng huê lợi về cây trồng. Ông Dũng, bà Mành cũng xác định ông bà không thay đổi hiện trạng đất, ông bà yêu cầu nguyên đơn trả công sức cho ông bà trong việc dọn cỏ, san lắp đất từ chỗ cao sang chỗ thấp, bồi mương xung quanh. Tuy ông Dũng có biên bản thỏa thuận không yêu cầu đền bù khi di dời nhưng biên bản này không có ý kiến của bà Mành. Mặc dù, ông Dũng, bà Mành không cung cấp được chứng cứ chứng minh công sức đầu tư của mình vào phần đất tranh chấp theo thông báo của Tòa án nhưng thực tế ông bà đã sinh sống trên phần đất này từ năm 1998; trong thời gian 26 năm ở trên đất thì ông Dũng, bà Mành cũng có một phần công sức gìn giữ, tu bổ đất nên khi di dời cần xem xét cho ông Dũng, bà Mành được nhận phần công sức gìn giữ đất với số tiền là 21.400.000 đồng (làm tròn) tương đương 10% giá trị đất theo giá mà Hội đồng định giá đã định.
Tổng cộng, nguyên đơn phải trả cho ông Dũng, bà Mành số tiền là 40.579.000 đồng (chi phí di dời 5.000.000đ +giá trị cây trồng 14.179.000đ + công sức gìn giữ đất 21.400.000₫).
Tại phiên tòa, ông Dũng yêu cầu Tòa án xem xét cho gia đình ông lưu cư một thời gian để tạo chỗ ở mới. Xét yêu cầu này của ông Dũng là phù hợp nên Hội đồng xét xử xem xét cho gia đình ông Dũng được lưu cư trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
[5] Về chi phí tố tụng: Chi phí thu thập chứng cứ trong vụ án tổng cộng là 2.809.000 (Hai triệu tám trăm lẻ chín nghìn) đồng. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên ông Dũng, bà Mành phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng nêu trên. Do nguyên đơn đã nộp tạm ứng toàn bộ số tiền tạm ứng nên ông Dũng, bà Mành phải trả lại cho nguyên đơn số tiền trên.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu đòi đất của nguyên đơn được chấp nhận nên ông Dũng, bà Mành phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng. Nguyên đơn phải chịu án phí có giá ngạch đối với số tiền phải trả cho ông Dũng, bà Mành là 2.028.000 đồng. Ông Dũng, bà Mành phải chịu án phí có giá ngạch đối với số tiền yêu cầu đền bù công sức không được chấp nhận là 2.421.000 đồng.
[7] Từ những phân tích trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm là có căn cứ nên được chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 147, 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 164, 166 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 166, 203 Luật đất đai; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đỗ Thành Nhân, bà Bùi Thị Lụa về việc yêu cầu ông Đỗ Thành Dũng, bà Nguyễn Thị Mành trả lại phần đất có diện tích là 933,2 m² có ký hiệu thửa 132a thuộc một phần thửa 132 tờ bản đồ 7 tọa lạc tại xã Châu Bình, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. (Có họa đồ kèm theo).
- - Buộc ông Đỗ Thành Dũng, bà Nguyễn Thị Mành và anh Đỗ Chí Tâm chịu trách nhiệm di dời căn nhà (nền đất, cột gỗ tạp, vách lá + tole, mái tole tráng kẽm không trần), chuồng chăn nuôi (nền xi măng, cột bê tông đúc sẵn, vách tường xây lửng, mái lá), 01 hồ tròn chứa nước, cây kiểng để trả cho ông Nhân, bà Lụa phần đất có diện tích là 933,2 m² nêu trên. Ông Dũng, bà Mành và anh Tâm được quyền lưu cư trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Chấp nhận một phần yêu cầu của ông Dũng, bà Mành.
- Buộc ông Nhân và bà Lụa chịu trách nhiệm liên đới trả cho ông Dũng, bà Mành số tiền là 40.579.000 (Bốn mươi triệu năm trăm bảy mươi chín nghìn) đồng. Ông Nhân, bà Lụa được sở hữu toàn bộ số cây trồng trên phần đất tranh chấp (trừ cây kiểng).
- Chi phí tố tụng: Ông Dũng và bà Mành phải trả cho ông Nhân và bà Lụa số tiền chi phí tố tụng là 2.809.000 (Hai triệu tám trăm lẻ chín nghìn) đồng.
- - Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- - Ông Nhân và bà Lụa phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 2.028.000 (Hai triệu không trăm hai mươi tám nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông bà đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001666 ngày 30/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Ông Nhân và bà Lụa còn phải nộp số tiền án phí là 1.728.000 (Một triệu bảy trăm hai mươi tám nghìn) đồng.
- - Ông Đỗ Thành Dũng và bà Nguyễn Thị Mành phải liên đới chịu án phí là 2.721.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông bà đã nộp là 3.900.000 (Ba triệu chín trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004898 ngày 02/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Ông Dũng và bà Mành được nhận lại số tiền án phí là 1.179.000 (Một triệu một trăm bảy mươi chín) đồng.
- Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 02 của Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ngọc Huyền |
Bản án số 55/2024/DS-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 55/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
