|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU TỈNH AN GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 55/2024/HS-ST
Ngày 11 tháng 7 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thuỳ Dương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thế Phương và bà Huỳnh Thị Hồng Nho.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Ngô Tấn Bửu - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu tham gia phiên toà: Ông Huỳnh Hoài Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2024/HS-ST ngày 20 tháng 5 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 39/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:
Lê Thanh D
sinh ngày 01 tháng 01 năm 1973, tại Đồng Tháp; nơi đăng ký thường trú (chỗ ở hiện nay): Ấp A, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 05/12; con ông Lê Văn C (đã chết) và bà Phạm Thị H; có vợ tên Ngô Thị Ngọc D1, sinh năm 1977; có hai người con, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2009; tiền án, không; tiền sự: Ngày 28/4/2023, bị Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế T6, tỉnh Đồng Tháp áp dụng Điều 15 Nghị định 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 của Chính phủ xử phạt về hành vi kinh doanh hàng hóa nhập lậu, mức phạt 3.000.000 đồng, đã chấp hành nộp phạt ngày 28/04/2023; nhân thân: Ngày 01/7/2003, bị Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp, xử phạt 03 tháng tù về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có;
bị cáo tại ngoại (có mặt).
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Thanh D: Bà Ngô Thị Ngọc D1, sinh năm 1977; cư trú: Ấp A, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp (vợ bị cáo, có mặt);
Người bào chữa cho bị cáo Lê Thanh D: Ông Trần Văn H1, sinh năm: 1955; Luật sư Văn phòng Luật sư Nguyễn Văn M thuộc Đoàn Luật sư tỉnh A; địa chỉ: Số B, T, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang (có mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1996; cư trú: Khu vực L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ (vắng mặt);
- - Ông Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1973; cư trú: Số nhà A, đường T, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ (vắng mặt);
- - Ông Ngô Quốc T2, sinh năm 1974; cư trú: Khu vực L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ (vắng mặt);
- - Ông Lê Huy H2, sinh năm 1981; cư trú: Số A đường Q, phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt);
- - Ông Nguyễn Quốc D2, sinh năm 1980; cư trú: Số G đường Đ T, phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt);
- - Ông Hồng Minh T3, sinh năm 1973; cư trú: Ấp B, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt);
- - Ông Phạm Văn H3, sinh năm 1975; cư trú: Khóm B, phường K, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt);
- - Anh Võ Văn N, sinh năm 1989; cư trú: Ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt);
- - Chị Dương Thị Chúc L, sinh năm 1990; cư trú: Số A, đường C, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ (vắng mặt);
- - Anh Nguyễn Văn Long H4, sinh năm 1988; cư trú: Khóm L, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- - Anh Nguyễn Thanh Đ, sinh năm 1985; cư trú: Khóm C, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- - Ông Võ Hồng C1, sinh năm 1972; cư trú: Ấp A, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- - Ông Lý Thanh S, sinh năm 1978; cư trú: Số B Tỉnh lộ 921, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ (vắng mặt);
- - Chị Đặng Thị Q, sinh năm 1995; cư trú: Khóm T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo Lê Thanh D bị Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Vào lúc 05 giờ 30 phút ngày 19/6/2023, Tổ công tác chống buôn lậu Công an thị xã T tuần tra, phát hiện bị cáo Lê Thanh D đang điểu khiển xe mô tô loại xe Crea (có gắn biển số 67AA-078.17 không cung cấp được giấy tờ, hóa đơn chứng từ về xe mô tô. Bị cáo D khai là xe lậu, bị cáo D nhận xe từ B (không rõ nhân thân, lai lịch) mua ở Campuchia đem về Việt Nam qua đường biên giới xã V, thị xã T, để bán cho T4 (không rõ địa chỉ) ở khu vực Thành phố Hồ Chí Minh với số tiền 8.890.000 đồng.
Trước đó, ngày 28/4/2023, bị cáo Lê Thanh D đã bị Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế T6, tỉnh Đồng Tháp áp dụng Điều 15 Nghị định 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 của Chính Phủ xử phạt về hành vi kinh doanh hàng hóa nhập lậu, mức phạt 3.000.000 đồng.
Quá trình xác minh, điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã T đã phát hiện: Từ 13/02/2023 đến ngày 17/6/2023, bị cáo D có thỏa thuận với K, N1 (không rõ nhân thân, lai lịch) mang các loại xe không rõ nguồn gốc, nhập lậu từ Campuchia đến giao cho bị cáo D tại nhà (ấp A, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp). Sau đó, bị cáo D đem xe giao bán lại cho nhiều người, nhận tiền công 3.500.000 đồng/01 xe. Số tiền bán xe, bị cáo D nhận và nộp vào tài khoản tên Hồ Văn Đ1. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, thu hồi 07 xe mô tô, cụ thể:
- - Ngày 17/3/2023, bị cáo D bán 01 xe mô tô, loại xe SH màu đen cho Nguyễn Văn T, khu vực L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ, bị cáo D nhận số tiền 130.000.000 đồng.
- - Ngày 19/4/2023, bị cáo D mang 01 xe mô tô, loại Cup 50 màu đen LITTLE đến Bưu điện huyện H, tỉnh Đồng Tháp gửi, bán cho Lê Huy H2, đường Q, phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo D nhận tiền thu hộ 23.000.000 đồng.
- - Ngày 05/6/2023, bị cáo D bán 01 xe mô tô, loại Wave I màu trắng cho Lý Thanh S, ở phường T, quận T, thành phố Cần Thơ, nhận số tiền 35.500.000 đồng.
- - Ngày 08/6/2023, bị cáo D mang 02 xe mô tô Honda, loại Scoopy màu trắng đến Bưu điện huyện H, tỉnh Đồng Tháp gửi, bán cho Nguyễn Ngọc T1, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ, 01 xe mô tô Honda, loại Scoopy màu trắng nhận số tiền thu hộ 25.000.000 đồng và gửi bán cho Nguyễn Quốc D2 khóm T, phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp, nhận thu hộ 20.000.000 đồng.
- - Ngày 12/6/2023, bị cáo D mang 01 xe Honda, Wave I màu đỏ đến Bưu điện T7, huyện H, tỉnh Đồng Tháp gửi, bán cho Phạm Văn H3 khóm B, phường K, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng, nhận số tiền thu hộ: 88.000.000 đồng.
- - Ngày 17/6/2023, bị cáo D mang xe mô tô loại Wave I màu trắng đến Bưu điện huyện H, tỉnh Đồng Tháp gửi bán cho Hồng Minh T3, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu, nhận số tiền thu hộ: 60.000.000 đồng.
Ngoài ra, bị cáo D khai vào các ngày 13/2/2023, 01/3/2023, 01/4/2023, 10/4/2023, có 04 lần điều khiển xe nhập lậu (gồm các loại xe: Wave 125, C, D) đến huyện C, thành phố L, tỉnh An Giang giao bán cho Võ Văn N, Nguyễn Văn Long H4, Võ Hồng C1, Nguyễn Thanh Đ và đem đến Bưu điện huyện H, tỉnh Đồng Tháp gửi bán 01 xe mô tô loại Crea 50 màu trắng cho Dương Thị Chúc L, đường C, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã T đã khởi tố, áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Lê Thanh D.
Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 123 ngày 17/4/2024 của Trung tâm P:
Về y học: Trước, trong, sau khi thực hiện hành vi buôn lậu và hiện tại: Đương sự có bệnh lý tâm thần rối loạn nhân cách thực tồn.
Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội và hiện tại: Đương sự hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Về trách nhiệm hình sự: tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội và hiện tại: Đương sự có năng lực trách nhiệm hình sự.
Kết luận giám định số 126, 127, 137, 136, 137, 152, 153, 326, 376 ngày 23/6/2023, 10/9/2023, 04/11/2023, 05/11/2023, 25/11/2023, 29/12/2023, 29/01/2024, 31/01/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh A:
- - Xe mô tô có gắn biển số 67AA – 078.17, số khung AF54-1122918, số máy AF54E-1123316, không bị cắt, hàn, đục, sửa, tẩy xóa, hoen gỉ.
- - Xe mô tô không có biển số hiệu Honda, loại Scoopy màu trắng xanh, dãy số khung thứ nhất: C50YH088168, dãy số khung thứ hai: ..................., số máy C50E-284601, sau khi giám định dãy số khung thứ nhất bị cắt, hàn; dãy số khung thứ hai bị tẩy xóa phát hiện dãy số ...5E-1154577 (“…….” là ký tự và số không đọc được); số máy bị cắt, hàn.
- - Xe mô tô không có biển số số khung NF125MC-0283183, số máy NF125MCE-0283183 không bị cắt, hàn, đục, sửa, tẩy xóa, hoen gỉ.
- - Xe mô tô không có biển số số khung NF125MC-0279213, số máy NF125MCE-0279213 không bị cắt, hàn, đục, sửa, tẩy xóa, hoen gỉ.
- - Xe mô tô không có biển số, hiệu Honda, loại SH màu đen số khung ..................., số máy ....1....00317, sau giám định số khung, số máy bị đục, sửa, phát hiện: số khung RRSADK1RS51 – 000317, số máy: VD....150...0000317 (“………” là các ký tự và số không đọc được)
- - Xe mô tô không có biển số số khung MLHJC9318P5023766, số máy JC93E-1023766, không bị cắt, hàn, đục, sửa, tẩy xóa, hoen gỉ.
- - Xe mô tô không có biển số số khung AA01-4014043, số máy AA02E-1013993, không bị cắt, hàn, đục, sửa, tẩy xóa, hoen gỉ.
- - Xe mô tô không có biển số số khung AF55-1801935, số máy AF69E-3007732, không bị cắt, hàn, đục, sửa, tẩy xóa, hoen gỉ.
- Tìm thấy dữ liệu lưu trữ trong 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy (do bị cáo D giao nộp): Nhật ký cuộc gọi, tin nhắn SMS; Tin nhắn của ứng dụng Z, M1 cài đặt trên điện thoại và tin nhắn với nội dung mua bán, vận chuyển xe nhập lậu, thông tin chuyển tiền liên quan đến vụ án.
Kết luận định giá tài sản số 577, 658, 623, 651, 681 ngày 07/8/2023, 25/10/2023, 27/12/2023, 28/12/2023, 08/01/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh A:
Các xe đã được thu hồi:
- - Xe mô tô có gắn biển số 67AA – 078.17, số khung AF54-1122918, số máy AF54E-1123316, trị giá 8.890.000 đồng.
- - Xe mô tô không có biển số nhãn hiệu Honda, Wave I màu trắng số khung NF125MC-0283183, số máy NF125MCE-0283183, trị giá 65.000.000 đồng.
- - Xe mô tô không có biển số nhãn hiệu Honda, Wave I màu đỏ số khung NF125MC-0279213, số máy NF125MCE-0279213, trị giá 90.000.000 đồng.
- - Xe mô tô không có biển số, hiệu Honda, loại SH màu đen số khung ..................., số máy ....1....00317, trị giá 65.000.000 đồng.
- - Xe mô tô không có biển số số khung MLHJC9318P5023766, số máy JC93E-1023766, trị giá 42.000.000 đồng.
- - Xe mô tô không có biển số hiệu Honda, loại Scoopy màu trắng xanh, dãy số khung thứ nhất: C50YH088168, dãy số khung thứ hai:................................., số máy C50E-284601, trị giá 25.000.000 đồng.
- - Xe mô tô không có biển số hiệu Honda, loại Little Cup 50 màu đen số khung AA01-4014043, số máy AA02E-1013993, trị giá 24.000.000 đồng.
- - Xe mô tô không có biển số hiệu Honda, loại Scoopy màu trắng xanh số khung AF55-1801935, số máy AF69E-3007732, trị giá 25.000.000 đồng.
Tổng giá trị: 344.890.000 đồng.
Các xe không thu hồi được:
- - Xe mô tô không biển số hiệu Honda, loại Dream 125 màu đen trị giá 40.000.000 đồng.
- - Xe mô tô không biển số, loại Cup 50 màu xanh trị giá 70.000.000 đồng.
- - Xe mô tô không biển số hiệu Honda loại Wave 125 màu xanh trị giá 40.000.000 đồng.
- - Xe mô tô không biển số hiệu Honda loại Cream màu trắng, trị giá 18.000.000 đồng.
- - Xe mô tô không biển số hiệu Honda loại Wave 125 màu đen, trị giá 43.000.000 đồng.
- - Xe mô tô không biển số loại Cup 50 màu xanh trị giá 27.780.000 đồng.
Tổng trị giá: 238.780.000 đồng.
Lời khai bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày như nội dung vụ án, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập, thể hiện trong hồ sơ vụ án.
Nguyễn Văn T, Nguyễn Ngọc T1, Ngô Quốc T2, Lê Huy H2, Nguyễn Quốc D2, Hồng Minh T3, Phạm Văn H3, trình bày được chào bán xe thông qua tài khoản Facebook tên “K”, khi mua xe từ bị báo D không biết là hàng hóa nhập lậu, đã tự nguyện giao nộp và không yêu cầu bồi thường.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
- - Xe mô tô có gắn biển số 67AA – 078.17, số khung AF54-1122918, số máy AF54E-1123316.
- - Xe mô tô không có biển số hiệu Honda, loại Scoopy màu trắng xanh, dãy số khung thứ nhất: C50YH088168, dãy số khung thứ hai: ..................., số máy C50E-284601.
- - Xe mô tô không có biển số số khung NF125MC-0283183, số máy NF125MCE-0283183.
- - Xe mô tô không có biển số số khung NF125MC-0279213, số máy NF125MCE-0279213.
- - Xe mô tô không có biển số, hiệu Honda, loại SH màu đen số khung ..................., số máy ....1....00317.
- - Xe mô tô không có biển số số khung MLHJC9318P5023766, số máy JC93E-1023766.
- - Xe mô tô không có biển số số khung AA01-4014043, số máy AA02E-1013993.
- - Xe mô tô không có biển số số khung AF55-1801935, số máy AF69E-3007732.
- - 01 điện thoại di động hiệu S1.
Cáo trạng số: 23/CT-VKSTC-HS ngày 20/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu đã truy tố Lê Thanh D về tội "Buôn lậu" theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 188 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Thanh D thống nhất với nội dung truy tố của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, bị cáo không biết hành vi bị cáo là vi phạm pháp luật.
Bà Ngô Thị Hồng D3 đại diện hợp pháp của bị cáo D thống nhất với lời trình bày của bị cáo D và thống nhất nội dung truy tố của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Võ Văn N và chị Đặng Thị Q giữ nguyên lời khai giai đoạn điều tra và lời khai phù hợp nội dung vụ án nêu trên.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng quá trình điều tra đều khai nhận phù hợp với nội dung vụ án.
Phát biểu quan điểm luận tội, Kiểm sát viên giữ quan điểm truy tố bị cáo D về tội “Buôn lậu” theo điểm c khoản 2 Điều 188 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về hình phạt: đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 188; điểm q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Lê Thanh D, từ 01 (một) năm đến 02 (hai) năm tù về tội “Buôn lậu”. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo D do bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn.
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: Xe mô tô có gắn biển số 67AA – 078.17, số khung AF54-1122918, số máy AF54E-1123316; Xe mô tô không có biển số hiệu Honda, loại Scoopy màu trắng xanh, dãy số khung thứ nhất: C50YH088168, dãy số khung thứ hai:.................., số máy C50E-284601; Xe mô tô không có biển số số khung NF125MC-0283183, số máy NF125MCE-0283183; Xe mô tô không có biển số số khung NF125MC-0279213, số máy NF125MCE-0279213; Xe mô tô không có biển số, hiệu Honda, loại SH màu đen số khung ..................., số máy ....1....00317; Xe mô tô không có biển số số khung MLHJC9318P5023766, số máy JC93E-1023766; Xe mô tô không có biển số số khung AA01-4014043, số máy AA02E-1013993; Xe mô tô không có biển số số khung AF55-1801935, số máy AF69E-3007732; 01 điện thoại di động hiệu S1.
Trong phần tranh luận, bị cáo (đại diện hợp pháp của bị cáo) đồng ý theo quyết định truy tố và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Lê Thanh D, thống nhất với luận tội của đại diện Viện kiểm sát truy tố bị cáo D về tội “Buôn lậu”. Thống nhất các tình tiết giảm nhẹ, mức đề nghị hình phạt theo quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát. Đồng thời, bị cáo D bị hạn chế về năng lực hành vi dân sự (bệnh tâm thần nhẹ), đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo D hưởng án treo tạo điều kiện cho bị cáo D điều trị bệnh.
Đại diện Viện kiểm sát đối đáp, bị cáo D có nhân thân xấu, thái độ chấp hành pháp luật không tốt, cụ thể ngày 28/4/2023, bị Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế T6, tỉnh Đồng Tháp áp dụng Điều 15 Nghị định 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 của Chính phủ xử phạt về hành vi kinh doanh hàng hóa nhập lậu, mức phạt 3.000.000 đồng; trước đó, ngày 01/7/2003, bị cáo D bị Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp, xử phạt 03 tháng tù về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Do đó, đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt tù đối với bị cáo D là có căn cứ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Võ Văn N và chị Đặng Thị Q không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng, xin được Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
[1] Về tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Lời khai nhận nêu trên của bị cáo Lê Thanh D tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; phù hợp các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Vào lúc 05 giờ 30 phút ngày 19/6/2023, tại khu vực xã V, thị xã T, tỉnh An Giang, bị cáo D mang xe mô tô 02 bánh biển số 67AA - 078.17, có số khung AF54-1122918, số máy AF54E-1123316, nhãn hiệu HONDA, số loại Crea, màu trắng), nhập lậu về Việt Nam để bán lại, bị phát hiện, bắt giữ. Ngoài ra, từ ngày 13/02/2023 đến 17/6/2023, bị cáo Lê Thanh D đã có hành vi mang 07 xe mô tô (01 (một) xe mô tô 02 bánh không có biển số, hiệu Honda, loại SH, màu đen, số khung bị tẩy xóa, số máy: VD...150...0000317; 01 (một) xe mô tô 02 bánh không có biển số, số máy: JC93E-1023766, số khung: MLHJC9318P5023766, hiệu Honda, loại Wave I, màu trắng đỏ; 01 (một) xe gắn máy không có biển số, hiệu Honda, loại Scoopy, màu trắng xanh, số khung số máy không rõ (bị tẩy xóa); 01 (một) xe mô tô 02 bánh không biển số, có số khung NF125MC-0283183, số máy NF125MCE-0283183 nhãn hiệu HONDA, số loại Wave I, màu trắng; 01 (một) xe mô tô 02 bánh không biển số, có số khung NF125MC-0279213, số máy NF125MCE-0279213, nhãn hiệu HONDA, số loại Wave I, màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô 02 bánh không biển số, có số khung AA01-4014043, số máy AA02E-1013993, nhãn hiệu HONDA, số loại Little Cup 50, màu đen; 01 (một) xe mô tô 02 bánh không biển số, có số khung AF55-1801935, số máy AF69E- 3007732, nhãn hiệu HONDA, số loại Scoopy, màu trắng xanh (tất cả đã qua sử dụng)) không rõ nguồn gốc, tổng trị giá 336.000.000 đồng, nhập lậu từ Campuchia vào Việt Nam bán lại cho nhiều người, thu lợi 6.000.000 đồng. Tổng trị giá: 344.890.000 đồng.
Bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi mà bị cáo thực hiện đã xâm phạm đến sự quản lý của Nhà nước đối với trật tự quản lý kinh tế, gây ảnh hưởng tiêu cực đến những người buôn bán hợp pháp và tác động xấu đến môi trường kinh doanh tại địa phương. Về nhận thức, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ tư lợi mà bị cáo đã bất chấp sự trừng phạt của pháp luật, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.
Cáo trạng số 23/CT-VKSTC ngày 20/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu truy tố bị cáo D về tội “Buôn lậu” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 188 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi; gia đình bị cáo đã nộp tiền thu lợi bất chính; bị cáo thuộc thành phần lao động, trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét thấy, bị cáo D có 02 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 và các tình tiết giảm nhẹ ở khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đủ điều kiện áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để xét xử bị cáo D dưới mức thấp nhất của khung hình phạt để hiện hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo D đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát và cho bị cáo D hưởng án treo. Hội đồng xét xử, nhận thấy bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo đã từng bị Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp, xử phạt 03 tháng tù về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có; ngày 28/4/2023, bị Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế T6, tỉnh Đồng Tháp áp dụng Điều 15 Nghị định 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 của Chính phủ xử phạt về hành vi kinh doanh hàng hóa nhập lậu, mức phạt 3.000.000 đồng (tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo D chưa được xóa tiền sự). Do đó, bị cáo D không đủ điều kiện hưởng án treo theo Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử, chấp nhận.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 188 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Hội đồng xét xử, nhận thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo đã nộp số tiền thu lợi bất chính nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Không có.
[6] Về xử lý vật chứng: 01 (một) xe mô tô 02 bánh biển số 67AA - 078.17, có số khung AF54-1122918, số máy AF54E-1123316, nhãn hiệu HONDA, số loại Crea, màu trắng; 01 (một) xe mô tô 02 bánh không có biển số, hiệu Honda, loại SH, màu đen, số khung bị tẩy xóa, số máy: VD...150...0000317; 01 (một) xe mô tô 02 bánh không có biển số, số máy: JC93E-1023766, số khung: MLHJC9318P5023766, hiệu Honda, loại Wave I, màu trắng đỏ; 01 (một) xe gắn máy không có biển số, hiệu Honda, loại Scoopy, màu trắng xanh, số khung số máy không rõ (bị tẩy xóa); 01 (một) xe mô tô 02 bánh không biển số, có số khung NF125MC-0283183, số máy NF125MCE-0283183 nhãn hiệu HONDA, số loại Wave I, màu trắng; 01 (một) xe mô tô 02 bánh không biển số, có số khung NF125MC-0279213, số máy NF125MCE-0279213, nhãn hiệu HONDA, số loại Wave I, màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô 02 bánh không biển số, có số khung AA01-4014043, số máy AA02E-1013993, nhãn hiệu HONDA, số loại Little Cup 50, màu đen; 01 (một) xe mô tô 02 bánh không biển số, có số khung AF55-1801935, số máy AF69E- 3007732, nhãn hiệu HONDA, số loại Scoopy, màu trắng xanh (tất cả đã qua sử dụng); 01 (một) phong bì thư màu trắng được niêm phong, bên ngoài có ghi “Vụ: 376/KL-KTHS(KTSĐT-GT), ngày 10 tháng 09 năm 2023 (Điện thoại gửi giám định)", có chữ ký và họ tên của: Nguyễn Phát H5 – Điều tra viên, Giáp Thanh T5 – Giám định viên và dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 - Công an tỉnh A đóng dấu giáp lai là các vật chứng liên quan đến việc phạm tội của bị cáo, xét tịch thu bán phát mại sung vào ngân sách Nhà nước.
Lưu hồ sơ vụ án, 01 (một) phong bì thư màu trắng được niêm phong, bên ngoài có ghi “Vụ: 376/KL- KTHS(KTSĐT-GT), ngày 10 tháng 09 năm 2023 (Đĩa DVD kèm theo KLGĐ)", có chữ ký và họ tên của: Nguyễn Phát H5 – Điều tra viên, Giáp Thanh T5 – Giám định viên và dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 - Công an tỉnh A đóng dấu giáp lai.
(Đặc điểm tang vật như biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra - Công an thị xã T với Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu ngày 28/5/2024).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận: bị cáo D thu lợi bất chính số tiền 6.000.000 đồng. Hội đồng xét xử, buộc bị cáo D giao nộp số tiền thu lợi bất chính 6.000.000 đồng.
Tiếp tục tạm giữ số tiền 6.000.000 đồng, bà D3 (vợ bị cáo D) tự nguyện giao nộp khắc phục hậu quả số tiền thu lợi bất chính để đảm bảo việc thi hành án (theo biên lai thu tiền số 3837 ngày 29/5/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu).
(theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự).
[7] Về các vấn đề khác:
- - Đối với những lần bị cáo D giao bán xe vào các ngày 13/2/2023, 01/3/2023, 01/4/2023, 10/4/2023 cho Võ Văn N, Nguyễn Văn Long H4, Võ Hồng C1, Nguyễn Thanh Đ, Dương Thị Chúc L, các xe trên không thu hồi được, không tiến hành giám định nguồn gốc, xuất xứ, số khung, số máy được nên chưa đủ căn cứ quy kết trách nhiệm hình sự đối với bị cáo D là phù hợp.
- - Người tên K, B, N1 đều không rõ nhân thân, lai lịch. Hồ Văn Đ1 không có mặt tại địa phương, Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ, xử lý sau là có căn cứ.
- - Bị cáo D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 188; điểm q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Lê Thanh D phạm tội “Buôn lậu”;
Xử phạt: Bị cáo Lê Thanh D 02 (hai) năm tù
Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo D được tính kể từ ngày bị bắt chấp hành án.
Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu bán phát mại sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe mô tô 02 bánh biển số 67AA - 078.17, có số khung AF54-1122918, số máy AF54E-1123316, nhãn hiệu HONDA, số loại Crea, màu trắng; 01 (một) xe mô tô 02 bánh không có biển số, hiệu Honda, loại SH, màu đen, số khung bị tẩy xóa, số máy: VD...150...0000317; 01 (một) xe mô tô 02 bánh không có biển số, số máy: JC93E-1023766, số khung: MLHJC9318P5023766, hiệu Honda, loại Wave I, màu trắng đỏ; 01 (một) xe gắn máy không có biển số, hiệu Honda, loại Scoopy, màu trắng xanh, số khung số máy không rõ (bị tẩy xóa); 01 (một) xe mô tô 02 bánh không biển số, có số khung NF125MC-0283183, số máy NF125MCE-0283183 nhãn hiệu HONDA, số loại Wave I, màu trắng; 01 (một) xe mô tô 02 bánh không biển số, có số khung NF125MC-0279213, số máy NF125MCE-0279213, nhãn hiệu HONDA, số loại Wave I, màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô 02 bánh không biển số, có số khung AA01-4014043, số máy AA02E-1013993, nhãn hiệu HONDA, số loại Little Cup 50, màu đen; 01 (một) xe mô tô 02 bánh không biển số, có số khung AF55-1801935, số máy AF69E- 3007732, nhãn hiệu HONDA, số loại Scoopy, màu trắng xanh (tất cả đã qua sử dụng); 01 (một) phong bì thư màu trắng được niêm phong, bên ngoài có ghi “Vụ: 376/KL-KTHS(KTSĐT-GT), ngày 10 tháng 09 năm 2023 (Điện thoại gửi giám định)", có chữ ký và họ tên của: Nguyễn Phát H5 – Điều tra viên, Giáp Thanh T5 – Giám định viên và dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 - Công an tỉnh A đóng dấu giáp lai.
Lưu hồ sơ vụ án, 01 (một) phong bì thư màu trắng được niêm phong, bên ngoài có ghi “Vụ: 376/KL- KTHS(KTSĐT-GT), ngày 10 tháng 09 năm 2023 (Đĩa DVD kèm theo KLGĐ)", có chữ ký và họ tên của: Nguyễn Phát H5 – Điều tra viên, Giáp Thanh T5 – Giám định viên và dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 - Công an tỉnh A đóng dấu giáp lai.
(Đặc điểm tang vật như biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra - Công an thị xã T với Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu ngày 28/5/2024).
Buộc bị cáo D giao nộp số tiền thu lợi bất chính 6.000.000 (sáu triệu) đồng.
Tiếp tục tạm giữ số tiền 6.000.000 đồng, bà D3 (vợ bị cáo D) tự nguyện giao nộp khắc phục hậu quả số tiền thu lợi bất chính để đảm bảo việc thi hành án (theo Biên lai thu tiền số 3837 ngày 29/5/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu).
Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Thanh D phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Căn cứ Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo (người bào chữa cho bị cáo, đại diện hợp pháp bị cáo), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
13 |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Nguyễn Thị Thùy Dương |
Bản án số 55/2024/HS-ST ngày 11/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về hình sự về tội "buôn lậu"
- Số bản án: 55/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội "Buôn lậu"
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lê Thanh D phạm tội Buôn lậu
