Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TIÊN LÃNG

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 55/2024/HNGĐ-ST

Ngày 09-9-2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG


- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Văn Đoan;

Ông Phạm Văn Tiến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Ngọc Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Tuân - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 71/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Vũ Thị Á, sinh năm 1993, nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Thôn Đ, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1981, nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt, có đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Vũ Thị Á trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn P kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng ngày 30-6-2012. Trong thời gian chung sống, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, anh P thường ghen tuông, kiểm soát quá mức cuộc sống của chị Á, vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Do mâu thuẫn căng thẳng nên anh chị đã sống ly thân mỗi người một nơi từ giữa năm 2023 đến nay. Xác định vợ chồng không còn tình cảm, không thể đoàn tụ, chị Á yêu cầu Toà án giải quyết cho chị ly hôn anh P. Anh chị có 02 con chung là Nguyễn Khánh N, sinh ngày 19-6-2013 và Nguyễn Mạnh C, sinh ngày 20-02-2016. Từ khi vợ chồng sống ly thân, các con sống cùng anh P; anh P ngăn cản chị Á thăm nom con nên chị phải lén lút thăm gặp con ở trường học. Khi ly hôn, chị Á nhận nuôi con Nguyễn Khánh N; đề nghị Toà án giao con Nguyễn Mạnh C cho anh P nuôi dưỡng; không yêu cầu Toà án giải quyết về việc cấp dưỡng cho con. Về tài sản chung, anh chị tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết. Chị Á hiện làm công nhân, có thu nhập và chỗ ở ổn định, đảm bảo việc nuôi con.

Lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Nguyễn Văn P trình bày: Xác nhận các thông tin về thời gian kết hôn, con chung giữa anh và chị Á. Trong thời gian chung sống, chị Á mải chơi, không chăm lo cho gia đình, con cái nên vợ chồng mâu thuẫn, cãi nhau. Chị Á bỏ đi từ cuối năm 2023, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, anh P có gọi điện động viên chị Á về đoàn tụ nhưng chị Á không nghe máy, chặn liên lạc của anh P. Mặc dù vẫn mong muốn vợ chồng đoàn tụ nhưng nếu chị Á kiên quyết ly hôn, anh P cũng đồng ý. Từ khi vợ chồng sống ly thân các con đều sống cùng anh P; chị Á thỉnh thoảng có về thăm gặp con, anh P không ngăn cản gì. Khi ly hôn, anh nhận nuôi cả hai con Nguyễn Khánh N, sinh ngày 19-6-2013 và Nguyễn Mạnh C, sinh ngày 20-02-2016, không yêu cầu Toà án giải quyết về việc cấp dưỡng cho con và tài sản chung. Anh P hiện làm công nhân, có thu nhập và chỗ ở ổn định, đảm bảo việc nuôi con.

Xác minh tại gia đình và địa phương thể hiện: Chị Vũ Thị Á và anh Nguyễn Văn P tự nguyện kết hôn với nhau từ năm 2012 theo quy định của pháp luật. Trong thời gian chung sống, anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do tính tình không hợp, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, nghi ngờ nhau không chung thuỷ. Từ khoảng cuối năm 2023 đến nay anh chị sống ly thân mỗi người một nơi. Mặc dù hai gia đình đã động viên, hoà giải nhưng không giải quyết được mâu thuẫn giữa anh chị. Anh P và chị Á có 02 con chung là Nguyễn Khánh N, sinh ngày 19-6-2013 và Nguyễn Mạnh C, sinh ngày 20-02-2016. Từ khi vợ chồng sống ly thân, các con sống cùng anh P, chị Á có về thăm nom các con. Cả hai anh chị đều có công việc ổn định và được gia đình cam kết hỗ trợ trong việc trông nom, chăm sóc con chung. Con Nguyễn Khánh N có nguyện vọng được sống cùng mẹ; con Nguyễn Mạnh C có nguyện vọng được sống cùng bố.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, không có mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải theo thông báo của Tòa án, vi phạm khoản 15, khoản 16 Điều 70 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án đã thụ lý đúng thẩm quyền và xác định đúng quan hệ pháp luật của vụ án là về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

Về quan hệ hôn nhân, mâu thuẫn tình cảm giữa chị Á và anh P đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vi phạm Điều 19, Điều 21 của Luật Hôn nhân và gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Á được ly hôn anh P. Giao con Nguyễn Khánh N, sinh ngày 19-6-2013 cho chị Á trực tiếp nuôi dưỡng; giao con Nguyễn Mạnh C, sinh ngày 20-02-2016 cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng. Không xem xét, giải quyết về cấp dưỡng cho con và tài sản chung do đương sự không yêu cầu. Chị Á là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm; chị Á, anh P có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.


NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Vũ Thị Á khởi kiện về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh Nguyễn Văn P tại Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng. Bị đơn là anh P cư trú tại xã K, huyện T nên căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.

[2] Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt nhưng lời khai trong giai đoạn chuẩn bị xét xử đã có đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Á và anh P.

Về quan hệ hôn nhân:

[3] Chị Á và anh P kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng ngày 30-6-2012 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Lời khai của các đương sự phù hợp với nhau, phù hợp với kết quả xác minh tại gia đình và địa phương thể hiện: Trong thời kỳ hôn nhân, giữa anh P và chị Á xảy ra mâu thuẫn nghiêm trọng do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tin tưởng lẫn nhau và đã sống ly thân mỗi người một nơi, không quan tâm nhau từ khoảng cuối năm 2023 đến nay. Xét thấy, anh P và chị Á không còn yêu thương, tôn trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc gia đình; vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng được quy định tại Điều 19 và Điều 21 của Luật Hôn nhân và gia đình. Anh P mặc dù không muốn ly hôn nhưng vẫn chấp nhận theo yêu cầu ly hôn của chị Á. Như vậy, mâu thuẫn giữa anh chị đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị Á, xử cho chị Á được ly hôn anh P.

[5] Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Nguyễn Khánh N, sinh ngày 19-6-2013 và Nguyễn Mạnh C, sinh ngày 20-02-2016. Xét thấy, cha mẹ đều có tình cảm, quyền và trách nhiệm như nhau trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con chung. Cả anh P và chị Á đều có công việc và chỗ ở ổn định, được gia đình hỗ trợ; con N có nguyện vọng được sống với mẹ, con C có nguyện vọng được sống với bố. Để đảm bảo sự ổn định về mặt tâm lý, sự phát triển về mọi mặt của con, cần căn cứ khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình giao con Nguyễn Khánh N, sinh ngày 19-6-2013 cho chị Á trực tiếp nuôi dưỡng; giao con Nguyễn Mạnh C, sinh ngày 20-02-2016 cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng. Thời hạn nuôi con kể từ ngày 09-9-2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, chị Á và anh P không yêu cầu Tòa án giải quyết; xét thấy quyền lợi của con vẫn được đảm bảo nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về tài sản chung: Chị Á và anh P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Chị Á là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[8] Về quyền kháng cáo: Chị Á và anh P có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,


QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,


Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị Á được ly hôn anh Nguyễn Văn P.
  2. Về con chung: Giao con Nguyễn Khánh N, sinh ngày 19-6-2013 cho chị Vũ Thị Á trực tiếp nuôi dưỡng; giao con Nguyễn Mạnh C, sinh ngày 20-02-2016 cho anh Nguyễn Văn P trực tiếp nuôi dưỡng. Thời hạn nuôi con tính từ ngày 09-9-2024 đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Không xem xét về việc cấp dưỡng cho con do các đương sự không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  1. Về tài sản chung: Chị Á và anh P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  2. Về án phí: Chị Á phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009003 ngày 26-4-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng. Chị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Chị Á và anh P có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND huyện Tiên Lãng;
  • - Chi cục THADS huyện Tiên Lãng;
  • - UBND xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng;
  • (ĐKKH năm 2012);
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Thanh Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2024/HNGĐ-ST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 55/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BALH A-P 55.09.09.2024
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger