|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 55/2024/HS-ST
Ngày: 09-5-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Nhất Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Nguyễn Trọng Thiện
2/ Ông Đinh Hoàng Việt
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Thúy Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 09/5/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10 xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 42/2024/TLST-HS ngày 11/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2024/QĐXXST-HS ngày 15/4/2024 đối với bị cáo:
Lê Văn H; sinh năm 1987 tại thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: Không; Chỗ ở: Không nơi ở nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn D và bà Nguyễn Thị L; Tiền sự: Không
- Tiền án:
- + Ngày 27/02/2019 “Trộm cắp tài sản”, bị Tòa án nhân dân Quận 7 xử phạt 02 năm tù, theo Bản án số 91/2019/HSST ngày 11/7/2019; Chấp hành án đến ngày 27/11/2020.
- + Ngày 05/12/2020 “Trộm cắp tài sản”, bị Tòa án nhân dân Quận 5 xử phạt 03 năm tù, theo Bản án số 33/2021/HSST ngày 23/4/2021; Chấp hành án đến ngày 05/11/2023.
- Nhân thân:
- + Ngày 24/12/2003, “Trộm cắp tài sản”, bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng, theo Bản án số 127/HSST ngày 21/5/2004.
- + Ngày 01/8/2006 “Trộm cắp tài sản”, bị Tòa án nhân dân Quận 7 xử phạt 01 năm 06 tháng tù, theo Bản án số 03/2007/HSST ngày 08/01/2007; Chấp hành án đến ngày 01/02/2008; Đã chấp hành xong án phí ngày 27/8/2007.
- + Ngày 19/6/2008 “Trộm cắp tài sản”, bị Tòa án nhân dân Quận 7 xử phạt 02 năm tù, theo Bản án số 148/2008/HSST ngày 18/9/2008; Chấp hành án đến ngày 20/3/2010; Đã chấp hành xong án phí ngày 08/9/2009.
- + Ngày 05/12/2010, “Trộm cắp tài sản”, bị Tòa án nhân dân Quận 7 xử phạt 02 năm tù, theo Bản án số 100/2011/HSST ngày 26/5/2011; Chấp hành án đến ngày 05/8/2012; Bị can được đình chỉ thi hành án các khoản án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo Quyết định đình chỉ thi hành án số 10/QĐ-CCTHADS ngày 23/11/2017.
- + Ngày 29/9/2012 “Trộm cắp tài sản”, bị Tòa án nhân dân Quận 4 xử phạt 02 năm tù, theo Bản án số 47/2013/HSST ngày 25/4/2013; Chấp hành án đến ngày 29/6/2014; Đã chấp hành xong án phí ngày 29/5/2014.
- + Ngày 01/8/2014 “Trộm cắp tài sản”, bị Tòa án nhân dân Quận 7 xử phạt 02 năm tù, theo Bản án số 190/2014/HSST ngày 12/11/2014; Chấp hành án đến ngày 02/5/2016; Đã chấp hành xong án phí ngày 24/6/2016.
- + Ngày 18/8/2016, sử dụng trái phép chất ma túy, bị Tòa án nhân dân Quận 7 áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng, theo Quyết định số 156/2016/QĐ-TA ngày 03/11/2016. Chấp hành xong ngày 18/8/2018.
Bị bắt tạm giam từ ngày 18/12/2023 (Có mặt)
- Bị hại: Chị Phan Kim X, sinh năm: 2003 (Vắng mặt)
Địa chỉ: số C lô C chung cư L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Để có tiền tiêu xài, khoảng 06 giờ ngày 27/11/2023, Lê Văn H đi xe ôm dịch vụ đến khu vực chung cư L, Phường A, Quận A, tìm cơ hội để trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài. H vào cầu thang bộ của chung cư lên lầu. Khi đi đến nhà số C lô C chung cư Lê Hồng P, thấy nhà không khóa cửa H đi vào nhà thì chị Nguyễn Trần Quỳnh N hỏi H “đi đâu vậy”, H nói đi kiếm người thân rồi bỏ đi ra. Thấy nhà số C không khóa cửa, H đi vào nhà rồi đi lên gác, thấy chị Phan Kim X (là chủ nhà) đang nằm ngủ trên nệm, cạnh chỗ chị X ngủ có để 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11, 01 máy Ipad và 01 máy tính MacBook Air để trong túi vải màu xanh. H lấy các tài sản trên bỏ vào túi vải màu xanh thì chị X giật mình tỉnh dậy. H cầm túi bỏ chạy ra khỏi nhà theo cầu thang bộ xuống tầng trệt, chị X đuổi theo và tri hô nhưng H chạy bộ tẩu thoát. Đến 17 giờ 30 phút cùng ngày, chị X đến Công an P1, Quận A trình báo. Vụ việc được lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q giải quyết.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã yêu cầu định giá tài sản, tại Kết luận định giá tài sản số 4638/KL-HĐĐGTS ngày 20/12/2023 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân Quận A xác định: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu xanh trị giá 7.900.000 đồng; 01 chiếc Ipad (thế hệ 6) màu vàng trị giá 5.500.000 đồng và 01 chiếc máy tính hiệu MacBook Air 13 inch M1 2020 trị giá 15.800.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 29.200.000 đồng.
Qua truy xét, ngày 16/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã khởi tố, bắt tạm giam đối với bị can Lê Văn H, đến ngày 18/12/2024 thì bắt được bị can H. Tại Cơ quan điều tra, bị can H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Sau khi chiếm đoạt được tài sản của chị X, bị can H đã đi đến cửa hàng Đ, số A L, phường T, Quận G, bán toàn bộ tài sản chiếm đoạt được cho bà Nguyễn Thị Hồng X1 (là chủ cửa hàng) được 4.500.000 đồng và H đã tiêu xài cá nhân hết số tiền này. Riêng sim điện thoại của chị X và trang phục bị can H mặc khi thực hiện hành vi phạm tội, bị can H đã vứt bỏ (không nhớ địa điểm). H khai khi bán tài sản có nói với bà X1 là tài sản do H mới trộm cắp được đem đến bán. Lời khai nhận tội của bị can H phù hợp với biên bản kiểm tra hình ảnh camera tại hiện trường vụ án.
Bà Nguyễn Thị Hồng X1 khai: Khoảng 09 giờ ngày 27/11/2023, Lê Văn H đến cửa hàng và nói có 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11, 01 máy Ipad và 01 máy tính MacBook Air cần bán. Bà X1 yêu cầu H nhập mật khẩu mở máy nhưng H không biết nên bà X1 nói không biết mật khẩu thì bà không mua. H năn nỉ bà mua giùm nên bà X1 đồng ý mua 03 máy trên với giá 4.500.000 đồng, mục đích để lấy linh kiện sửa chữa, thay thế cho khách khi có nhu cầu và trả tiền mặt cho H. Sau đó, H nhờ bà X1 đặt xe ôm dịch vụ về lô M chung cư N, Phường B, Quận A. H đã nhiều lần ghé cửa hàng Đ, để mua thẻ cào điện thoại (khoảng 6 lần) và khoảng 4 lần nhờ bà đặt xe ôm dịch vụ. Khoảng 11 giờ ngày 28/11/2023, H có đến cửa hàng gặp bà X1 nhờ chuyển tiền số tiền 500.000 đồng cho người quen và nhờ bà đặt xe về chung cư Ngô Gia T. Bà X1 không biết các tài sản trên do đâu mà có cũng như không biết việc H trộm cắp tài sản. Bà X1 đã tự nguyện giao nộp lại 03 chiếc máy trên.
Qua xác minh hiện bà Nguyễn Thị Hồng X1 không còn cư trú tại số A L, phường T, Quận G nên Cơ quan quản Cảnh sát điều tra Công an Q chưa tiến hành đối chất làm rõ được, đã ra thông báo truy tìm đối với Nguyễn Thị Hồng X1 nhưng đến nay chưa có kết quả.
Vật chứng vụ án:
- 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu xanh; 01 chiếc Ipad (thế hệ 6) màu vàng; 01 chiếc máy tính hiệu MacBook Air 13 inch M1 2020 và 01 túi đựng máy tính bằng vải - là tài sản của chị Phan Kim X. Cơ quan điều tra đã trao trả lại tài sản cho chị X.
- 01 chiếc điện thoại di động hiệu Vivo Y21, màu tím-đen và 01 điện thoại di động hiệu OPPO Reno 5, thu giữ của bà Nguyễn Thị Hồng X1.
- Tài sản thu giữ của Lê Văn H:
- + 01 chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Mio, màu vàng-đen, biển số: 63S8-1747, có số khung: RLCM5WP204Y014055, số máy: 5WP2-14055. Kết quả giám định số khung, số máy không thay đổi. Xác minh xe do chị Lê Thị Ngọc H1 đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Khoảng năm 2008 hoặc 2009, chị H1 đã bán chiếc xe trên cho 01 người nam không quen biết với giá 5.000.000 đồng, không làm giấy tờ mua bán xe. H khai mua xe của 01 người phụ nữ (không rõ lai lịch) tại Quận H vào khoảng đầu năm 2023 với giá 5.500.000 đồng. Cơ quan điều tra đã có Công văn đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng đến nay chưa có kết quả.
- + 01 chiếc điện thoại di động hiệu OPPO A37, màu hồng - trắng, đã qua sử dụng, H khai của người quen cho H để sử dụng. Cơ quan điều tra đã lập biên bản kiểm tra kết quả không có thông tin, hình ảnh gì.
- + 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A32 5G, màu xám-đen, đã qua sử dụng, H khai do H nhặt được. Cơ quan điều tra đã lập biên bản kiểm tra kết quả không có thông tin, hình ảnh gì.
- + 01 chiếc điện thoại di động hiệu Redmi Note 8, màu xanh-đen, đã qua sử dụng, H khai điện thoại trên do người quen cho để sử dụng.
Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 có quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 chờ xử lý.
01 USB chứa dữ liệu camera ghi nhận hình ảnh Lê Văn H cầm tài sản trộm cắp được chạy tẩu thoát. (Lưu cùng hồ sơ vụ án)
Về trách nhiệm dân sự: bị hại là chị Phan Kim X không có yêu cầu bồi thường.
Tại bản cáo trạng số 41/CT-VKS ngày 11/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 truy tố bị cáo Lê Văn H ra trước Tòa án nhân dân Quận 10 để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 vẫn giữ quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) và đề nghị: Xử phạt bị cáo mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Phạt bổ sung bị cáo số tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017). Buộc bị cáo Lê Văn H có nghĩa vụ nộp số tiền thu lợi bất chính 4.500.000 (Bốn triệu năm trăm ngàn) đồng vào ngân sách nhà nước.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 228 Bộ luật dân sự năm 2015.
- - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động hiệu S A32 5G.
- - Trả lại cho bị cáo: 01 chiếc điện thoại di động hiệu OPPO A37, màu xám-đen, đã qua sử dụng và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Redmi Note 8, màu xanh-đen, đã qua sử dụng.
Tiếp tục đăng công báo trong thời hạn 01 năm để truy tìm chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Mio, màu vàng-đen, biển số: 63S8-1747, có số khung: RLCM5WP204Y014055, số máy: 5WP2-14055. Hết thời hạn trên không có người nhận hợp pháp thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Đối với: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Vivo Y21, màu tím-đen và 01 điện thoại di động hiệu OPPO Reno 5, thu giữ của Nguyễn Thị Hồng X1, giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q bảo quản vật chứng để củng cố tài liệu, chứng cứ tiếp tục điều tra, làm rõ hành vi đối với Nguyễn Thị Hồng X1.
Bị cáo không tranh luận.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị can mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Xét, đã có đủ cơ sở kết luận: Xuất phát từ động cơ vụ lợi, muốn có tiền tiêu xài, bị cáo đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản để lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11, 01 chiếc Ipad 6, 01 máy tính MacBook Air của chị Phan Kim X vào hồi 06 giờ 00 phút ngày 27/11/2023 tại nhà số C chung cư L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tài sản bị cáo chiếm đoạt qua định giá có tổng giá trị là 29.200.000 đồng, thuộc trường hợp tài sản chiếm đoạt có giá trị dưới 50.000.000 đồng.
Với giá trị tài sản chiếm đoạt và hành vi phạm tội của bị cáo đã có đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xét thấy bị cáo đã tái phạm nay lại tiếp tục phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm” là tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm theo quy định điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017)
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, gây mất trật tự, trị an xã hội. Bị cáo có đủ khả năng nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng với động cơ vụ lợi bất chính, lười lao động muốn có tiền tiêu xài nên vẫn cố ý phạm tội.
Xét, bị cáo có nhân thân rất xấu, rất nhiều lần bị Tòa án xử phạt tù về các tội chiếm đoạt tài sản nhưng không chịu sửa chữa mà tiếp tục lao vào con đường phạm tội, thể hiện bị cáo có thái độ xem thường pháp luật, do đó cần phải có mức hình phạt thật nghiêm tưng xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo.
[4] Các tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Sau khi xem xét khách quan, toàn diện về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo thành người có ích. Hình phạt đối với bị cáo cũng để giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.
Đối với Nguyễn Thị Hồng X1 không thừa nhận biết tài sản mua của bị cáo H là do phạm tội mà có. Đối với các tài liệu, chứng cứ Cơ quan điều tra thu thập được, chưa đủ căn cứ để khởi tố đối với X1 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã ra quyết định truy tìm đối với Nguyễn Thị Hồng X1 nhưng chưa có kết quả, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, làm rõ được xử lý sau là có căn cứ.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo phạm tội do vụ lợi, từng nhiều lần bị xét xử về hành vi chiếm đoạt tài sản, do đó cần phạt bổ sung bị cáo số tiền 10.000.000 đồng nộp ngân sách nhà nước.
[6] Về số tiền thu lợi bất chính: Quá trình thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo thu lợi bất chính số tiền là 4.500.000 đồng. Căn cứ khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cần tịch thu số tiền trên nộp ngân sách nhà nước.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường những khoản gì khác. Tại phiên tòa đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề để xem xét, giải quyết.
[8] Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Xét:
- - 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A32 5G bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- - 01 chiếc điện thoại di động hiệu OPPO A37 và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Redmi Note 8, màu xanh-đen, không chứng minh liên quan hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
- - 01 chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Mio, màu vàng-đen, biển số: 63S8-1747, có số khung: RLCM5WP204Y014055, số máy: 5WP2-14055 qua xác minh chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên tiếp tục truy tìm chủ sở hữu trong thời hạn 01 năm. Hết thời hạn trên không có người nhận hợp pháp thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- - Đối với: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Vivo Y21, màu tím-đen và 01 điện thoại di động hiệu OPPO Reno 5, thu giữ của Nguyễn Thị Hồng X1, giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q bảo quản vật chứng để tiếp tục điều tra, làm rõ và xử lý theo quy định pháp luật.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Căn cứ điểm g khoản 2, khoản 5 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Lê Văn H 03 (Ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/12/2023.
Phạt bổ sung bị cáo số tiền 10.000.000 (Mười triệu) đồng nộp ngân sách nhà nước
Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017). Buộc bị cáo Lê Văn H có nghĩa vụ nộp số tiền thu lợi bất chính 4.500.000 (Bốn triệu năm trăm ngàn) đồng vào ngân sách nhà nước.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 228 Bộ luật dân sự năm 2015.
- - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động hiệu S A32 5G.
- - Trả lại cho bị cáo: 01 chiếc điện thoại di động hiệu OPPO A37, màu xám-đen, đã qua sử dụng và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Redmi Note 8, màu xanh-đen, đã qua sử dụng.
Tiếp tục đăng công báo trong thời hạn 01 năm để truy tìm chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Mio, màu vàng-đen, biển số: 63S8-1747, có số khung: RLCM5WP204Y014055, số máy: 5WP2-14055. Hết thời hạn trên không có người nhận hợp pháp thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q bảo quản: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Vivo Y21, màu tím-đen và 01 điện thoại di động hiệu OPPO Reno 5.
(Theo quyết định chuyển vật chứng số 53/QĐ-VKS ngày 10/4/2024 của Viện kiểm sát Quận 10)
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, các điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Nhất Dũng |
Bản án số 55/2024/HS-ST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 55/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội trộm cắp tài sản
