Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 55/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 08/8/2024.

V/v: “tranh chấp ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Vân Hồng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
  2. Bà Mai Lương Anh

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Ngọc Phú – Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Đạt – Kiểm sát viên.

Ngày 08/8/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 749/2023/TLST- HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2023 về “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/02/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 87/2024/QĐST-DS giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1972, địa chỉ: Tổ G thôn Đ, xã X, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Bị đơn: Ông Nguyễn Đình D, sinh năm 1972, địa chỉ: Tổ G thôn Đ, xã X, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.

(bà H có mặt, ông D vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: bà và ông Nguyễn Đình D chung sống với nhau từ năm 2003, sau đó lấy nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 28/8/2013. Hai vợ chồng kết hôn trên tinh thần tự nguyện, không tổ chức lễ cưới. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2015 thì nảy sinh mâu thuẫn do ông D có mối quan hệ ngoài luồng dẫn đên không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, không cùng tiếng nói chung. Ông, bà đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay. Mâu thuẫn xảy ra cả hai bên gia đình đều biết. Nay, bà xác nhận tình cảm vợ chồng không còn, không còn khả năng hàn gắn nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Đình D.

- Về con chung: ông bà có 01 con chung tên Nguyễn Đình M, sinh ngày 09/8/2004. Hiện nay, con chung đã trên 18 tuổi và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Nguyễn Đình D vắng mặt không có lý do, vì vậy Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Tòa án: Tòa án xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, nguyên đơn, bị đơn và thu thập chứng cứ theo đúng quy định tại các Điều 35, 51, 56, 68, các Điều 94 đến Điều 98, Điều 203, 205, các Điều 208 đến Điều 211 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71, 72, 91, 96 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình Điều 70, 71, 72, 91, 96 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử chấp hành đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị H, cho bà H được ly hôn với ông Nguyễn Đình D.

-Về con chung: Cháu Nguyễn Đình M, sinh ngày 09/8/2004, hiện đã trưởng thành, phát triển bình thường và có khả năng lao động, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Đây là vụ án hôn nhân và gia đình về việc “tranh chấp ly hôn” giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Đình D theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

Ông D đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông D.

[2] Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông D là hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Theo bà H trình bày sau khi kết hôn vợ chồng chung sống phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông D có mối quan hệ ngoài luồng dẫn đên không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, không cùng tiếng nói chung. Ông D, bà H đã không còn chung sống với nhau từ năm 2023. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông D cũng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, thể hiện ông D không có thiện chí hòa giải để đoàn tụ gia đình.

Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy rằng giữa bà H và ông D mâu thuẫn đã trầm trọng, không còn sự quan tâm và chăm sóc lẫn nhau, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu của bà H ly hôn với ông D là phù hợp và đúng pháp luật.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Đình M, sinh ngày 09/8/2004. Xét thấy, cháu M đã trên 18 tuổi, có khả năng lao động, bà H không yêu cầu nên không yêu cầu Tòa án không giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có

[3] Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147 và Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56 và Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Đình D.
  2. Về án phí: bà Nguyễn Thị H phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002952 ngày 18/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
  3. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Ông Nguyễn Đình D có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKS thành phố Đà Lạt;
  • - THADS thành phố Đà Lạt;
  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - UBND xã Madaguôi, Đạ Huoai.
  • - Lưu AV, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Vân Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2024/HNGĐ-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 55/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử cho ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger