Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN BIÊN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2024/HS-ST

Ngày 08-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Văn Rum – Giáo viên trường Trung học cơ sở Tây Sơn, xã Mỏ Công, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.
  2. Bà Nguyễn Hồng Trang – Cán bộ hưu trí.

Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Trúc Linh, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Đăng Kha – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

  1. Trương Hải Đ, sinh ngày 30 tháng 11 năm 2001 tại tỉnh Tây Ninh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Khu phố E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Công T và bà Võ Thị B; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không có; bị bắt, tạm giam từ ngày 16/8/2023 đến nay; có mặt.
  2. Quang Hoài T1, sinh ngày 28 tháng 4 năm 2005 tại tỉnh Tây Ninh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Khu phố E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ văn hóa (học vấn): 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quang Văn C và bà Trần Thị Ngọc M; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không có; bị bắt, tạm giam từ ngày 16/8/2023 đến nay; có mặt
  3. Huỳnh Văn V, sinh ngày 20 tháng 11 năm 2007 tại Campuachia; Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo được 17 tuổi 03 tháng; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Khu phố E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn B1 và bà Đỗ Thị H; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh từ ngày 29/01/2024 đến nay; có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Huỳnh Văn V: Ông Huỳnh Văn B1, sinh năm 1968, bà Đỗ Thị H, sinh năm 1977; cùng nơi cư trú: Khu phố E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; là bố mẹ của bị cáo; ông B1 vắng mặt, bà H có mặt

- Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Văn V: Ông Lê Thanh Đ1, trợ giúp viên pháp lý công tác tại Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T bào chữa cho Huỳnh Văn V, có mặt.

- Bị hại: Anh Trương Ngọc S, sinh năm 2005, nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ ngày 09/5/2023, Trương Hải Đ điều khiển xe mô tô hiệu Honda loại Future FI biển số 70H1-599.32, Huỳnh Văn V điều khiển xe mô tô hiệu Honda loại Wave biển số 70F1-554.35 chở Quang Hoài T lưu thông trên đường N hướng từ Quốc lộ B đến công viên thị trấn T. Khi đến đoạn đường phía trước quán trà sữa “The Best” thì gặp nhóm của Trương Ngọc S, Nguyễn Hữu T2, sinh năm 2005, địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Đi cùng S có Nguyễn Bảo Quốc H1, sinh năm 2001, Ngô Thanh H2, sinh năm 2005, cùng địa chỉ: Ấp G, xã M, huyện T, tỉnh Tây Ninh, Lưu Đức H3, sinh năm 1998, địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; Trương Hòa B2, sinh năm 1999, địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, Nguyễn Tấn P, sinh năm 2005, địa chỉ: Ấp X, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; Huỳnh Minh Q, sinh năm 2005, địa chỉ: Ấp S, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh đang điều khiển xe đi cùng chiều phía sau. B2 điều khiển xe chạy vượt lên phía trước nẹt pô và tạt đầu xe nhóm của Đ. Sau đó V rủ T1, Đ đuổi theo nhóm của S để hỏi lý do, nếu trả lời không phù hợp thì sẽ đánh nhóm của S, Đ và T1 đồng ý.

Khi đến trước cửa hàng V1 xây dựng “G" thuộc khu phố F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, cả hai nhóm cùng dừng xe lại, Đ hỏi nhóm của S lý do chạy xe nẹt pô, tạt đầu xe mình thì B2 trả lời “thích chạy xe như vậy” và thách thức đánh nhau. H3 ném mũ bảo hiểm về phía nhóm của Đ, Đ ném mũ bảo hiểm của mình về phía nhóm của S nhưng đều không trúng. S lấy cây dũ khúc, bình xịt hơi cay, H1 lấy dao tự chế giấu trong người và đuổi đánh nhóm của Đ.

Thấy nhóm của S có hung khí, Đ, T1, V bỏ chạy sang bên kia đường lấy mỗi người 01 thanh củi để đánh lại. H1 cầm dao tự chế đuổi theo V chạy về hướng cửa hàng thuốc Huỳnh T3 nhưng bị V ném thanh củi rồi bỏ chạy trong đường nhựa cạnh cửa hàng thuốc Huỳnh T3 trốn vào nhà người dân. T4, P đuổi theo V khoảng 20 mét thì quay lại. Đ, T1 chạy hướng khác thì bị H1 (sau khi đuổi theo V quay lại) chạy đến dùng dao tự chế chém trúng khuỷu tay trái của Đ. Đ cầm khúc cây tràm bằng hai tay đánh hướng từ trên xuống trúng mũ bảo hiểm của H1 làm H1 bước lùi lại. T1 bị S dùng bình xịt hơi cay xịt vào mặt nên cầm khúc cây tràm bằng hai tay đánh hướng từ phải qua trái trúng hông trái của S. Đ thấy T1 bị S xịt hơi cay nên quay sang đứng phía sau lưng S cầm khúc cây tràm bằng hai tay đánh hướng từ trên xuống trúng mũ bảo hiểm của S. Sau đó Đ, T1 chạy về hướng Công an huyện T và vứt khúc cây tràm lại.

Thấy nhóm của Đ bỏ chạy, H1 dùng cây dũ khúc đập phần đầu và đuôi xe của V làm vỡ nắp sau tay lái, chụp đèn đuôi xe sau đó cả nhóm S đi về. Trên đường đi, S nói đau nên được T2 chở đến Trung tâm y tế huyện T cấp cứu và được chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh T phẫu thuật cấp cứu, điều trị đến ngày 16/5/2023 xuất viện. Tại cơ quan điều tra, Trương Hải Đ, Quang Hoài T1, Huỳnh Văn V đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 155/KLTTCT-TTPYTN ngày 10/7/2023 của Trung tâm Pháp y – Sở Y tế tỉnh T kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trương Ngọc S tại thời điểm giám định là 34% (ba mươi bốn phần trăm).

Kết luận giám định độ tuổi trên người sống số 455/KLGĐĐT-C09B ngày 09/01/2024 của Phân Viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận tại thời điểm giám định (tháng 12 năm 2023) Huỳnh Văn V có độ tuổi là 17 năm 10 tháng đến 18 năm 04 tháng.

Cáo trạng số 29/CT-VKSTB ngày 22 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên truy tố các bị cáo Trương Hải Đ, Quang Hoài T1, Huỳnh Văn V về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Trương Hải Đ, Quang Hoài T1, Huỳnh Văn V phạm tội “Cố ý gây thương tích”;

Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 38, Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trương Hải Đ từ 03 (ba) năm tù đến 04 (bốn) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 38, Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Quang Hoài T1 từ 03 (ba) năm tù đến 04 (bốn) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 91, Điều 101, Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Huỳnh Văn V từ 02 (hai) năm tù đến 03 (ba) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ các điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Trách nhiệm dân sự: Trương Ngọc S không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

- Bị cáo Trương Hải Đ, Quang Hoài T1, Huỳnh Văn V thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên truy tố, các bị cáo không có ý kiến tranh luận.

- Người bào chữa cho bị cáo V tranh luận: Thống nhất với luận tội của Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng và các tính tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Huỳnh Văn V. Bị cáo Vũ sinh ngày 20/11/2007 đến ngày thực hiện tội phạm 09/5/2023, bị cáo được 15 tuổi 05 tháng 19 ngày là trẻ em, nhận thức pháp luật còn hạn chế, tâm lý phát triển chưa đầy đủ, thích thể hiện, mang tính bộc phát. Vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, bị cáo không phải là người trực tiếp gây ra thương tích cho bị hại. Sự việc xảy ra lỗi một phần thuộc về bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo ăn năn hối cải, không có tiền án, tiền sự, chấp hành tốt pháp luật, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng. Bị cáo là lao động chính trong gia đình, đang phải chăm sóc mẹ già và nguyện vọng của bị cáo muốn được tiếp tục quay lại trường để học tập. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 91, Điều 101, Điều 54, Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo.

- Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo không bổ sung tranh luận của người bào chữa.

- Kiểm sát viên tranh luận: Người bào chữa thống nhất đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, Kiểm sát viên không tranh luận thêm. Căn cứ kết luận giám định độ tuổi xác định tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo V có độ tuổi từ 17 năm 03 tháng đến 17 năm 09 tháng, người bào chữa cho rằng bị cáo là người dưới 16 tuổi là không có căn cứ. Bị cáo không trực tiếp đánh bị hại nên luận tội, đề nghị mức hình phạt của Kiểm sát viên đã có sự phân hóa về vai trò, nhiệm vụ của từng người. Người bào chữa trình bày lỗi một phần của bị hại nhưng bị cáo có sự lựa chọn, cách hành xử khác sẽ không dẫn đến sự việc đáng tiếc này. Bị cáo có đủ điều kiện áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo nhưng xét về tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo xét thấy cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn để giáo dục bị cáo thành công dân tốt đồng thời phục vụ việc đấu tranh, phòng ngừa tội phạm. Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo V từ 02 năm tù đến 03 năm tù.

Bị cáo Đ, T1, V nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là sai, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến, không khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo thể hiện: Khoảng 21 giờ ngày 09/5/2023, tại khu vực trước cửa hàng vật liệu xây dựng “G" thuộc khu phố F, thị trấn T, tỉnh Tây Ninh, Trương Hải Đ, Quang Hoài T1, Huỳnh Văn V phát sinh mâu thuẫn trong quá trình điều khiển xe tham gia giao thông đường bộ với nhóm của Trương Ngọc S; Đ, T1, V có hành vi dùng 01 khúc cây tràm dài 1,3 m, đường kính đầu lớn là 7,5 cm, đường kính đầu nhỏ là 5,5 cm, cân nặng 2,42 kg là hung khí nguy hiểm đánh vào cơ thể của S gây thương tích. Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của Trương Ngọc S tại thời điểm giám định là 34%.

Hành vi của các bị cáo Đ, T1, V đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” thuộc trường hợp “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này” quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 29/CT-VKSTB ngày 22/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên truy tố các bị cáo là có căn cứ.

[3] Tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ đồng thời gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo Đ, T1 là người thành niên, đủ tuôi chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo V là người chưa thành niên, có khả năng nhận thức, điều khiển hành vi nhưng vì mâu thuẫn cá nhân không lớn, không kiềm chế được bản thân nên đã thực hiện tội phạm. Do đó các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của mình.

[4] Xét mức độ phạm tội của từng bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo mang tính chất đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ, phân công vai trò, sắp đặt nhiệm vụ rõ ràng giữa những người tham gia. Bị cáo Đ, T1 giữ vai trò chính, sử dụng khúc cây tràm là hung khí nguy hiểm đánh vào cơ thể của Trương Ngọc S là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tổn thương cơ thế của bị hại là 34% nên phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn bị cáo V. Huỳnh Văn V thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm, không trực tiếp gây thương tích cho bị hại nhưng có hành vi xúi giục, giúp sức cùng bị cáo Đ, T1 lấy khúc cây để đánh trả nhóm của S nên phải chịu mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của mình.

[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo đầy đủ, đúng sự thật những tình tiết liên quan đến hành vi phạm tội đã thực hiện; tác động gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 20.000.000 đồng; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đề nghị của người bào chữa là có căn cứ, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

[7] Hình phạt áp dụng: Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, xét thấy trong thời gian qua, tình trạng tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người khác diễn biến phức tạp, có xu hướng gia tăng, nhiều vụ việc nghiêm trọng xảy ra gây bức xúc trong dư luận xã hội. Vì vậy cần xử phạt bị cáo Đ, T1 mức hình phạt nghiêm khắc đảm bảo tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa tội phạm. Căn cứ Điều 38 của Bộ luật Hình sự, áp dụng hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.

Giấy khai sinh của Huỳnh Văn V thể hiện sinh ngày 20/11/2007, thực hiện đăng ký khai sinh ngày 14/8/2009 thuộc trường hợp đăng ký khai sinh trễ hạn và không thu thập được giấy chứng sinh. Kết luận giám định độ tuổi trên người sống của Phân Viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận tại thời điểm giám định (tháng 12 năm 2023) Huỳnh Văn V có độ tuổi là 17 năm 10 tháng đến 18 năm 04 tháng. Căn cứ Điều 417 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 6 Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 21/12/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ C1, Bộ Tư pháp, Bộ L - Thương binh và Xã hội về phối hợp thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi, Hội đồng xét xử xác định tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội ngày 09/5/2023, bị cáo V có độ tuổi 17 tuổi 03 tháng. Người bào chữa cho rằng bị cáo là trẻ em (người dưới 16 tuổi) là không có căn cứ.

Việc xử lý đối với bị cáo V căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, độ tuổi, khả năng nhận thức về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm nhằm đảm bảo lợi ích tốt nhất cho người dưới 18 tuổi, mục đích giáo dục, giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội. Xét đặc điểm về nhân thân, tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm, xét thấy các hình phạt, biện pháp giáo dục khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa. Người bào chữa đề nghị áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo là không phù hợp. Hội đồng xét xử căn cứ các điều 91, 101 của Bộ luật Hình sự áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo V.

Các bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự để quyết định mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo.

[8] Trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 20.000.000 đồng (gia đình bị cáo Đ, T1 mỗi gia đình bồi thường 7.000.000 đồng, gia đình bị cáo V bồi thường 6.000.000 đồng). Bị hại không yêu cầu bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[9] Biện pháp tư pháp: Căn cứ các điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

  • - 01 khúc cây tràm, 01 cây dũ khúc, 01 con dao tự chế và 01 bình xịt hơi cay là vật chứng công cụ, phương tiện phạm tội và không có giá trị sử dụng, Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 xe mô tô Honda Future FI biển số 70H1-599.32 là tài sản hợp pháp của bị cáo Đ, không phải là vật chứng trong vụ án. Hội đồng xét xử trả cho chủ sở hữu hợp pháp.

(Vật chứng đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T và có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/4/2024.

Trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án thì Chấp hành viên xử lý tiền, tài sản đó để đảm bảo thi hành án theo quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 126 của Luật Thi hành án dân sự;

Trường hợp người phải thi hành án đã tự nguyện thi hành án xong thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định trả lại tiền, tài sản tạm giữ theo quy định tại đoạn 1 khoản 1 Điều 126 của Luật Thi hành án dân sự).

[10] Nguyễn Bảo Quốc H1 có hành vi dùng dao tự chế chém bị cáo Trương Hải Đ gây thương tích, bị cáo Đ từ chối giám định và không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không xử lý là có căn cứ.

- Hành vi cất giấu dao tự chế, cây dũ khúc, bình xịt hơi cay và hành vi đánh nhau, đập phá tài sản của Nguyễn Bảo Quốc H1, Trương Ngọc S, Nguyễn Hữu T2, Lưu Đức H3, Trương Hòa B2, Huỳnh Minh Q, Trưởng Công an huyện T ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.

- Nguyễn Tấn P, Ngô Thanh H2 cùng Trương Ngọc S có hành vi đánh nhau, xác minh địa phương vắng mặt tại nơi cư trú, Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa tiến hành làm việc được.

[11] Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các bị cáo Đ, T1, V mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Trương Hải Đ, Quang Hoài T1, Huỳnh Văn V phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

1.1. Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 38, Điều 54 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Trương Hải Đ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày 16/8/2023.

1.2. Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 38, Điều 54 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Quang Hoài T1 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày 16/8/2023.

1.3. Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 91, Điều 101, Điều 54 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn V 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

2. Biện pháp tư pháp: Căn cứ các điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) khúc cây tràm dài 1,3 m, đường kính đầu lớn 7,5 cm, đường kính đầu nhỏ 5,5 cm; 01 (một) cây dũ khúc dài 63 cm, cán màu đen dài 24 cm, đường kính cán 2,5 cm; 01 (một) con dao tự chế dài 50,3 cm, cán dao dài 30 cm được quấn băng keo màu đen, lưỡi dài 20,3 cm nhọn đầu; 01 (một) bình xịt hơi cay màu đen, hiệu TAKE DOWN.

Trả cho chủ sở hữu hợp pháp bị cáo Trương Hải Đ 01 (một) xe mô tô hiệu Hondaloại Future FI màu xanh đen biển số 70H1-599.32, số khung RLHJC7658NY355594, số máy JC90E0400870 đã qua sử dụng.

(Vật chứng đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T và có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/4/2024.

Trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án thì Chấp hành viên xử lý tiền, tài sản đó để đảm bảo thi hành án theo quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 126 của Luật Thi hành án dân sự;

Trường hợp người phải thi hành án đã tự nguyện thi hành án xong thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định trả lại tiền, tài sản tạm giữ theo quy định tại đoạn 1 khoản 1 Điều 126 của Luật Thi hành án dân sự).

3. Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo Trương Hải Đ, Quang Hoài T1, Huỳnh Văn V môi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị cáo vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT.TANDTC (Vụ 1);
  • - TAND Cấp cao tại Tp.Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Cấp cao tại Tp.Hồ Chí Minh;
  • - Phòng KTNV.TA tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND huyện Tân Biên;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự;
  • - Nhà tạm giữ công an huyện Tân Biên;
  • - Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Biên;
  • - Phòng lý lịch - Sở tư pháp tỉnh Tây Ninh;
  • - Phòng PV 06 Công an tỉnh Tây Ninh;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hoàng Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2024/HS-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH về hình sự: cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 55/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 38, Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trương Hải Đ 03 năm 06 tháng tù, bị cáo Quang Hoài T 03 năm 06 tháng tù. Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 91, Điều 101, Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Huỳnh Văn V 02 năm 06 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger