|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 55/2024/HNGĐ-ST.
Ngày: 08-8-2024.
V/v “Tranh chấp ly hôn và
tranh chấp quyền nuôi con”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Lê Thị Trúc Linh.
Các Hội thẩm nhân dân.
1/. Ông Đoàn Trung Thống.
2/. Bà Lê Thị Kim Liên.
Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Quế Anh –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Càng Long.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long tham gia phiên tòa: bà Đinh Thị Mộng Cầm-Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 125/2024/TLST-HNGĐ, ngày 22 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn và tranh chấp quyền nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122/2024/QĐXXST-HN ngày 23 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: chị Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1992 (có đơn xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: ấp L, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Bị đơn: anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1991 (có đơn xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: ấp N, xã B, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Con chung của chị Q và anh B tên: Nguyễn Ngọc Ánh X, sinh ngày 19/8/2016. Địa chỉ: ấp L, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Ngọc Q là nguyên đơn trình bày: Chị và anh B do quen biết được cha mẹ hai bên gia đình đồng ý cho chị và anh B đi đến hôn nhân, tổ chức lễ cưới năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh vào ngày 16/02/2016. Nữ trang ngày cưới tổng cộng 03 chỉ vàng 24, sau đám cưới vợ chồng đã đồng ý bán hết để làm ăn hiện nay không còn. Sau ngày cưới vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 8 năm, đến tháng 10 năm 2021 thì cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nữa do vợ chồng không hợp tính tình và bất đồng quan điểm sống, nên mâu thuẫn vợ chồng thường xuyên xảy ra, không có sự đồng cảm, không có tiếng nói chung, mục đích hôn nhân không đạt được, nên vợ chồng đã ly thân từ tháng 10 năm 2021 đến nay không hàn gắn được.
Về con chung: Qúa trình chung sống vợ chồng sinh được 01 người con chung tên tên Nguyễn Ngọc Ánh X, sinh ngày 19/8/2016 hiện đang sống chung với chị.
Về tài sản chung: Quá trình chung sống vợ chồng không có tạo lập tài sản chung.
Về nợ chung: Quá trình chung sống vợ chồng không có thiếu nợ ai và cũng không có ai nợ vợ chồng chị.
Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị xin được ly hôn với anh Nguyễn Văn B.
- Về con chung tên: Nguyễn Ngọc Ánh X, sinh ngày 19/8/2016 hiện đang sống chung với chị, sau khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi dưỡng con, chị không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung; Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai anh Nguyễn Văn B là bị đơn trình bày: Anh là chồng của chị Nguyễn Ngọc Q. Anh hoàn toàn thống nhất lời trình bày của chị Q về hôn nhân, con chung, nữ trang là đúng sự thật. Quá trình chung sống vợ chồng không có tạo lập tài sản chung, vợ chồng không có thiếu nợ ai và cũng không có ai nợ vợ chồng anh. Sau ngày cưới vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 8 năm, đến tháng 10 năm 2021 thì cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nữa do vợ chồng không hợp tính tình và bất đồng quan điểm sống, nên mâu thuẫn vợ chồng thường xuyên xảy ra, không có sự đồng cảm, không có tiếng nói chung, mục đích hôn nhân không đạt được, nên vợ chồng đã ly thân từ tháng 10 năm 2021 đến nay không hàn gắn được.
Về con chung: Qúa trình chung sống vợ chồng sinh được 01 người con chung tên tên Nguyễn Ngọc Ánh X, sinh ngày 19/8/2016 hiện đang sống chung với chị Q.
Về tài sản chung: Quá trình chung sống vợ chồng không có tạo lập tài sản chung.
Về nợ chung: Quá trình chung sống vợ chồng không có thiếu nợ ai và cũng không có ai nợ vợ chồng anh.
Nay về quan hệ hôn nhân anh đồng ý ly hôn với chị Nguyễn Ngọc Q; Về con chung tên Nguyễn Ngọc Ánh X, sinh ngày 19/8/2016 hiện đang sống chung với chị Q, sau khi ly hôn anh đồng ý cho chị Q được nuôi dưỡng con, anh không cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung; Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, ngoài ra anh không yêu cầu gì khác.
Tại biên bản lấy lời khai cháu Nguyễn Ngọc Á X là con của chị Q và anh B trình bày: Cháu là con của bà Nguyễn Ngọc Q và ông Nguyễn Văn B, cháu đang học lớp 3 trường tiểu học H, hiện đang sống chung với mẹ, sau khi cha mẹ ly hôn nguyện vọng của cháu muốn được sống chung với mẹ là bà Nguyễn Ngọc Q.
Vụ kiện đã được Tòa án tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng anh Nguyễn Văn B là bị đơn vắng mặt do đó không tiến hành phiên hòa giải được và quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên tòa hôm nay chị Nguyễn Ngọc Q là nguyên đơn, anh Nguyễn Văn B là bị đơn, cháu Nguyễn Ngọc Á X là con của chị Q và anh B, tất cả đều vắng mặt có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long trình bày quan điểm cho rằng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi Tòa án thụ lý đến thời điểm này Thẩm phán đã chấp hành đúng theo Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự, đảm bảo về thẩm quyền, quan hệ tranh chấp, xác định tư cách người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thời gian bạn hành quyết định đưa vụ án ra xét xử, gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát, cấp và tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng, đã thực hiện đầy đủ và đúng theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử thực hiện đầy đủ và đúng theo trình tự pháp luật quy định của phiên tòa sơ thẩm.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên phía bị đơn anh Nguyễn Văn B chưa chấp hành nghiêm quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự cụ thể anh Nguyễn Văn B không có mặt trong các phiên hòa giải, công khai chứng cứ mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ.
Về nội dung vụ kiện Vị đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào quy đinh tại các Điều 19, 51, 53, 54, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình;
Các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của chị Nguyễn Ngọc Q.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Ngọc Q và anh Nguyễn Văn B được ly hôn.
- Về con chung: Chị Nguyễn Ngọc Q được quyền nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Ngọc Ánh X, sinh ngày 19/8/2016.
Anh Nguyễn Văn B được quyền thăm và chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự chưa yêu cầu, nên không xem xét.
- Về tài sản chung, về nợ chung: Các đương sự chưa yêu cầu, nên không xem xét.
Vị còn đề nghị buộc chị Nguyễn Ngọc Q có nghĩa vụ chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Tại phiên Tòa hôm nay chị Nguyễn Ngọc Q là nguyên đơn, anh Nguyễn Văn B là bị đơn, cháu Nguyễn Ngọc Á X là con của chị Q và anh B, tất cả đều vắng mặt có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử.
Về xác định quan hệ tranh chấp: Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thì đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn và tranh chấp quyền nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dụng vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Hôn nhân của chị Nguyễn Ngọc Q và anh Nguyễn Văn B được xác lập vào năm 2014 có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C vào ngày 16/02/2016 đúng quy định của pháp luật. Đây là tình tiết không cần phải chứng minh được quy định tại khoản 1 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự, từ đó xác định hôn nhân giữa chị Q và anh B là hôn nhân hợp pháp.
Xét về nguyên nhân mâu thuẫn: Theo chị Q cho rằng sau ngày cưới vợ chồng sống hạnh phục được khoảng 8 năm, đến tháng 10 năm 2021 thì cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nữa do vợ chồng không hợp tính tình và bất đồng quan điểm sống, nên mâu thuẫn vợ chồng thường xuyên xảy ra, không có sự đồng cảm, không có tiếng nói chung, mục đích hôn nhân không đạt được, nên vợ chồng đã ly thân từ tháng 10 năm 2021 đến nay không hàn gắn được.
Anh B cho rằng sau ngày cưới vợ chồng sống hạnh phục được khoảng 8 năm, đến tháng 10 năm 2021 thì cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nữa do vợ chồng không hợp tính tình và bất đồng quan điểm sống, nên mâu thuẫn vợ chồng thường xuyên xảy ra, không có sự đồng cảm, không có tiếng nói chung, mục đích hôn nhân không đạt được, nên vợ chồng đã ly thân từ tháng 10 năm 2021 đến nay không hàn gắn được.
Nay chị Q và anh B đều xác nhận vợ chồng không còn tình cảm với nhau và đều có nguyện vọng được ly hôn; Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị Q và anh B là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị Q là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
[2.2] Về con chung tên:
Nguyễn Ngọc Ánh X, sinh ngày 19/8/2016 hiện đang sống chung với chị Q, theo lời trình bày của chị Q yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con và anh B cũng đồng ý cho chị Q được tiếp tục nuôi dưỡng con, mặt khác theo nguyện vọng của cháu Ánh X muốn được sống với chị Q, từ đó nghĩ nên giao chị Q được quyền tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc Á X sau khi ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình. Anh Nguyễn Văn B có quyền thăm nom chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con:
Chị Q chưa có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về tài sản chung, về nợ chung:
Các đương sự chưa yêu cầu, nên không xem xét.
[2.5] Về án phí:
chị Nguyễn Ngọc Q có nghĩa vụ chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 19, 51, 53, 54, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình;
Các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 238, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của chị Nguyễn Ngọc Q.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Ngọc Q và anh Nguyễn Văn B được ly hôn.
- Về con chung: Chị Nguyễn Ngọc Q được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc Ánh X, sinh ngày 19/8/2016.
Anh Nguyễn Văn B được quyền thăm và chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự chưa yêu cầu, nên không xem xét.
- Về tài sản chung, về nợ chung: Các đương sự chưa yêu cầu, nên không xem xét.
- Về án phí: Chị Nguyễn Ngọc Q phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002487, ngày 22/3/2024 do Chi cục thi hành án dân sự huyện Càng Long thu, chị Nguyễn Ngọc Q đã nộp đủ tiền án phí, anh Nguyễn Văn B không phải nộp án phí.
2. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
(Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự).
|
Nơi nhận: -TAND tỉnh. -VKSND huyện, tỉnh. -CCTHADS huyện. -Các đương sự. -Lưu. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Trúc Linh |
Bản án số 55/2024/HNGĐ-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp ly hôn và tranh chấp quyền nuôi con
- Số bản án: 55/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và tranh chấp quyền nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án hôn nhân sơ thẩm giữa Nguyễn Ngọc Quyền và Nguyễn Văn Bé
