Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LAI VUNG

TỈNH ĐỒNG THÁP

Bản án số: 55/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 08-07-2024

Về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con

khi ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Huỳnh Thị Bích Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Đặng Văn Hai;
  • Ông Nguyễn Phát Triển.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thái Vân An - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lai Vung.

Ngày 08 tháng 07 năm 2024 tại hội trường Toà án nhân dân huyện Lai Vung xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 191/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 05 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 06 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Huỳnh Thị Mộng T, sinh năm 1985, Địa chỉ: Số nhà I, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
  2. Bị đơn: Nguyễn Nhựt T1, sinh năm 1980; Địa chỉ: Số nhà I, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

(Tất cả đương sự có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo các lời khai có trong hồ sơ cũng như tại phiên toà nguyên đơn Huỳnh Thị Mộng T trình bày:

Năm 2003 Huỳnh Thị Mộng T và Nguyễn Nhựt T1 sống chung với nhau, vợ chồng có đăng ký kết hôn vào năm 2003 tại UBND thị trấn L, huyện L; Quá trình sống chung vợ chồng có nhiều mâu thuẩn, bất đồng quan điểm thường hay cải nhau, anh T1 ghen tuông có những lời lẽ hăm dọa, cờ bạc gây ra nợ nần, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng tuy sống chung nhà nhưng không quan tâm nhau, mạnh ai nấy sống, mâu thuẫn trầm trọng kéo dài hơn 10 năm nay. Nay tôi thấy không còn khả năng đoàn tụ, tôi nhất quyết yêu cầu được ly hôn với Nguyễn Nhựt T1, trong lúc nóng giận cải nhau anh T1 dùng lời lẽ không hay, hăm dọa. Về con chung: Có 02 con chung là Huỳnh Thị Huỳnh N, sinh ngày 21/7/2004 và Nguyễn Nhựt T2, sinh ngày 21/12/2009; Huỳnh Thị Mộng T yêu cầu được quyền nuôi con chung Nguyễn Nhựt T2, không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con; Huỳnh Thị Huỳnh N đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn Nguyễn Nhựt T1 trình bày: Huỳnh Thị Mộng T trình bày là đúng về thời gian kết hôn, đăng ký kết hôn. Theo yêu cầu của Huỳnh Thị Mộng T thì anh Nguyễn Nhựt T1 không đồng ý ly hôn, trong lúc ghen tuông, cải nhau thì anh T1 nóng giận có những lời lẽ, thái độ không đúng với vợ con, có gây ra nợ nần nhưng hiện nay đã trả nợ hết, hứa sẽ thay đổi tính tình để vợ chồng hàn gắn tình cảm, để cùng nhau lo lắng nuôi hai con, Nguyễn Nhựt T1 cho rằng chỉ năn nỉ vợ, không muốn ly hôn nên có lời lẽ không đúng chứ không có hăm dọa. Về con chung: Có 02 con chung là Huỳnh Thị Huỳnh N, sinh ngày 21/7/2004 và Nguyễn Nhựt T2, sinh ngày 21/12/2009. Nguyễn Nhựt T1 đồng ý giao Nguyễn Nhựt T2 cho Huỳnh Thị Mộng T tiếp tục nuôi dưỡng, Nguyễn Nhựt T1 không phải cấp dưỡng nuôi con; Huỳnh Thị Huỳnh N đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Huỳnh Thị Mộng T có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn giữa Huỳnh Thị Mộng T với Nguyễn Nhựt T1, đây là vụ án tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. Bị đơn thường trú tại huyện L, tỉnh Đồng Tháp cho nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung theo quy định tại khoản 1, Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa Huỳnh Thị Mộng T và Nguyễn Nhựt T1 có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận là vợ chồng. Quá trình sống chung vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm thường hay cải nhau, Nguyễn Nhựt T1 dùng lời lẽ không đúng, cờ bạc gây ra nợ nần, mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm đến ai, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, Huỳnh Thị Mộng T nhất quyết xin ly hôn. Nguyễn Nhựt T1 thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn, lúc ghen tuông, cải nhau trong lúc nóng giận có những lời lẽ, hành động không đúng, có gây ra nợ nần nhưng hiện nay đã trả nợ hết, hứa sẽ thay đổi tính tình để vợ chồng hàn gắn tình cảm, để cùng nhau lo lắng nuôi hai con, Nguyễn Nhựt T1 nhất quyết không đồng ý ly hôn nhưng Nguyễn Nhựt T1 không có biện pháp hay hành động gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng, vợ chồng không có tiếng nói chung, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn. Mặc dù, Tòa án đã kiên trì hòa giải nhưng Huỳnh Thị Mộng T vẫn nhất quyết yêu cầu ly hôn với Nguyễn Nhựt T1, không muốn vợ chồng hàn gắn tình cảm. Xét thấy mâu thuẫn của Huỳnh Thị Mộng T với Nguyễn Nhựt T1 ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của Huỳnh Thị Mộng T là có căn cứ, đúng theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

“1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”...

[3] Về con chung: Có 02 con chung là Huỳnh Thị Huỳnh N, sinh ngày 21/7/2004 và Nguyễn Nhựt T2, sinh ngày 21/12/2009. Chị T yêu cầu được quyền nuôi con chung Nguyễn Nhựt T2, không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con, Huỳnh Thị Huỳnh N đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nguyễn Nhựt T1 đồng ý giao Nguyễn Nhựt T2, sinh ngày 21/12/2009 cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng, anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con. Xét sự thỏa thuận này là hoàn toàn tự nguyện, đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của các đương sự là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Huỳnh Thị Huỳnh N đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản khi ly hôn: Huỳnh Thị Mộng T và Nguyễn Nhựt T1 không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về nợ khi ly hôn: Huỳnh Thị Mộng T và Nguyễn Nhựt T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Về tiền tạm ứng án phí, án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn và án phí về cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của Huỳnh Thị Mộng T. Huỳnh Thị Mộng T được ly hôn với Nguyễn Nhựt T1.
  2. Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Huỳnh Thị Mộng T được tiếp tục nuôi con tên Nguyễn Nhựt T2, sinh ngày 21/12/2009. Nguyễn Nhựt T1 không phải cấp dưỡng nuôi con.

Nguyễn Nhựt T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Huỳnh Thị Mộng T và các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  1. Về tài sản và nợ khi ly hôn: Huỳnh Thị Mộng T và Nguyễn Nhựt T1 không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  2. Án phí và tạm ứng án phí sơ thẩm:

Huỳnh Thị Mộng T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0001676, ngày 17/05/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án ngày 08/07/2024.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND huyện Lai Vung;
  • - Chi Cục THADS H. LV;
  • - UBND TT Lai Vung;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HSVA, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thị Bích Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2024/HNGĐ-ST ngày 08/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG TỈNH ĐỒNG THÁP về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 55/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger