|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 55/2024/HS-ST
Ngày: 08 - 7 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Học
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Quốc Vượng
2. Ông Điểu Kim Rương
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Long – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 7 năm 2024 Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 44/2024/TLST-HS ngày 17/5/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2024/QĐXXST-HS ngày 12/6/2024 và Thông báo thay đổi ngày, giờ xét xử vụ án số 20/2024/TB-TA ngày 26/6/2024 đối với bị cáo:
Trần Phi H, sinh năm 1995 tại Bình Phước.
Tên gọi khác: L; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 6/12.
Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: tổ E, khu phố B, phường H, thị xã B, tỉnh Bình Phước.
Cha: Trần Phi H1, sinh năm: 1973, Mẹ: Tạ Thị H2, sinh năm 1971; HKTT: tổ E, khu phố B, phường H, thị xã B, tỉnh Bình Phước; Bị cáo chưa có vợ con; Bị cáo có em ruột là Trần Thị Tuyết H3, sinh năm 1998.
Tiền án: Ngày 27/11/2018 bị Toà án nhân dân thị xã Bình Long xử phạt 07 năm tù về hành vi mua bán trái phép chất ma tuý theo bản án 64/2018/HSST. Ngày 18/01/2023, H chấp hành xong hình phạt tù, căn cứ quy định tại Điều 70 Bộ luật hình sự, bị cáo chưa được xoá án tích.
Tiền sự: Không.
Ngày 05/02/2024 có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, bị bắt quả tang, đến ngày 07/02/2024 bị khởi tố vụ án, khởi tố bị can và tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Phi H là người thường xuyên sử dụng ma túy, loại ma túy H thường sử dụng là ma túy đá (methamphetamine), nguồn ma túy H mua từ một số đối tượng không rõ nhân thân lai lịch.
Khoảng 15 giờ ngày 05/02/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên H điều khiển xe mô tô hiệu Honda Winner biển số kiểm soát 93C1-127.10 đi đến khu vực đường đá thuộc phường A, thị xã B. Tại đây, H tìm gặp nam thanh niên tên H4 (không rõ lai lịch) mua 200.000₫ ma túy đá (Methamphetamine) để sử dụng và được người này bán cho 01 gói ma túy. Sau khi mua được ma túy, H giấu vào trong túi quần rồi điều khiển xe mô tô đi vào lô cao su đang cạo thuê tại xã M, huyện H. Khi H đi đến khu vực đường nhựa thuộc tổ G, ấp A, xã M, huyện H thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện và bắt quả tang H cất giấu trong túi quần 01 gói nylon đựng chất tinh thể màu trắng, H khai là ma túy.
Quá trình làm việc với Cơ quan điều tra, Trần Phi H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, lời khai phù hợp với các tài liệu chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập được.
Ngày 07/02/2024, Phòng K Công an tỉnh B có Kết luận giám định số 221/KL-KTHS, kết luận: Chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M) có trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định là Ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là: 0,1109 gam.
Ngày 27/11/2018, Trần Phi H bị Toà án nhân dân thị xã Bình Long xử phạt 07 năm tù về hành vi mua bán trái phép chất ma tuý theo bản án 64/2018/HSST. Ngày 18/01/2023, H chấp hành xong hình phạt tù, căn cứ quy định tại Điều 70 Bộ luật hình sự H chưa được xoá án tích.
Do vậy lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
* Về vật chứng của vụ án: Thu giữ 01 gói nylon bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, đã được niêm phong theo quy định; 01 xe mô tô hiệu Honda Winner biển số kiểm soát 93C1-127.10; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A10 có số IMEI 35718610628692.
Đề nghị xử lý:
+ Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Winner biển số kiểm soát 93C1-127.10 quá trình điều tra xác định là tài sản của anh Lê Đức H5, sinh năm 1992, HKTT: ấp C, xã T, huyện H. Khi H mượn xe đi mua ma tuý thì anh H5 không biết, không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của H.
Căn cứ điểm b, khoản 3, Điều 106 – Bộ luật Tố tụng hình sự, Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô trên cho anh H5.
+ Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A10 có số IMEI 35718610628692, quá trình điều tra xác định là tài sản của bà Tạ Thị H2, sinh năm 1971, HKTT: tổ E, khu phố B, phường H, thị xã B, không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của H. Căn cứ điểm b, khoản 3, Điều 106 – Bộ luật Tố tụng hình sự, Cơ quan điều tra đã trả lại điện thoại trên cho bà H2.
* Trách nhiệm dân sự: Không xảy ra.
Tại phiên toà:
Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố bảo vệ quan điểm của bản cáo trạng số 46/CT-VKS ngày 16/5/2024, căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Trần Phi H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Phi H mức án từ 20 (Hai mươi) đến 24 (Hai mươi bốn) tháng tù.
* Đề nghị xử lý vật chứng:
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa vẫn giữ nguyên đề nghị về sử lý vật chứng và vấn đề dân sự như nội dung bản cáo trạng.
Bị cáo tranh luận: Bị cáo không tranh luận gì.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của bị cáo và những người tham gia tố tụng. Quá trình điều tra, truy tố bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng nên hợp pháp.
[2] Tại phiên toà, bị cáo Trần Phi H khai nhận phù hợp với tình tiết của vụ án, như sau:
Ngày 05/02/2024, Trần Phi H đã có hành vi tàng trữ 01 gói ma túy loại methamphetamine có trọng lượng 0,1109 gam, cất giấu trên người nhằm mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang. Bản thân H khi thực hiện hành vi phạm tội là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm đến chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các loại chất gây nghiện, đi ngược lại đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trong việc đấu tranh phòng ngừa các tội phạm về ma túy, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương, đồng thời là mầm mống của các tệ nạn xã hội khác. Bị cáo là người đã thành niên và hoàn toàn nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện để thỏa mãn nhu cầu của bản thân.
Ngày 27/11/2018, Trần Phi H bị Toà án nhân dân thị xã Bình Long xử phạt 07 năm tù về hành vi mua bán trái phép chất ma tuý theo bản án 64/2018/HSST. Ngày 18/01/2023, H chấp hành xong hình phạt tù, căn cứ quy định tại Điều 70 Bộ luật hình sự H chưa được xoá án tích.
Do vậy lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tuy nhiên, cần xem xét đến tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi áp dụng mức hình phạt cho bị cáo. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên được Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo khi quyết định hình phạt. Trên cơ sở đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản vẫn giữ nguyên nội dung truy tố như bản Cáo trạng số 46/CT-VKS ngày 16/5/2024, truy tố bị cáo Trần Phi H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[4] Xử lý vật chứng vụ án:
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên đề nghị xử lý vật chứng như nội dung cáo trạng là có căn cứ; phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về vấn đề dân sự: Không có nên không đề cập đến.
[5] Về án phí: Bị cáo H chịu theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Phi H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Trần Phi H 01 (Một) năm 08 (T) tháng tù. Thời gian tính tù từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 05/02/2024.
Tiếp tục tạm giam bị cáo trong hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
3. Về vật chứng vụ án:
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu, tiêu hủy số ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định 0,0603 gam.
(Theo như mô tả của biên bản giao nhận vật chứng số 0005997 ngày 03/6/2024 giữa cơ quan Hỗ trợ tư pháp và Thi hành án hình sự và chi Chi cục thi hành án dân sự huyện Hớn Quản).
Các vật chứng khác đã được Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện H xử lý đúng quy định.
4. Về án phí:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
Bị cáo Trần Phi H phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đình Học |
Bản án số 55/2024/HS-ST ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 55/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ok
