TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH Bản án số: 55/2024/HS-PT Ngày 07-8-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Thành.
Các thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền
Ông Vũ Duy Luân
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Sáng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy H - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 92/2024/TLPT-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo Bùi Minh L và đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn T, Phạm Văn M, Bùi Minh L, Nguyễn Thế A và người đại diện hợp pháp của các bị cáo Bùi Minh L và Nguyễn Thế A đối với bản án hình sự sơ thẩm số 41/2024/HS-ST ngày 17 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
* Các bị cáo có kháng cáo:
- Bùi Minh L, sinh ngày 01/12/2006, tại tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn L1 và bà Bùi Thị L2; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. (Có mặt)
- Nguyễn Văn T, sinh ngày 26/7/2005, tại tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Trần Thị M1; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. (Có mặt)
- Phạm Văn M, sinh ngày 05/3/2005, tại tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: thôn H, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn M2 và bà Trần Thị R; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. (Có mặt)
- Nguyễn Thế A, sinh ngày 15/10/2006, tại tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: thôn H, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thế L3 và bà Vũ Thị H1; vợ con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. (Có mặt)
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Bùi Minh L: Ông Bùi Văn L1 và bà Bùi Thị L2; Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình. (Có mặt bà L2, vắng mặt ông L1)
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Thế A: Ông Nguyễn Thế L3 và bà Vũ Thị H1; Nơi cư trú: Thôn H, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình. (Có mặt bà H1, Vắng mặt ông L3)
- Người bào chữa cho bị cáo Bùi Minh L, Nguyễn Thế A: Ông Nguyễn Tiến S - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. (Có mặt)
- Bị hại:
- + Anh Trần Văn C, sinh năm 2003; Địa chỉ: Số nhà G, đường Đ, tổ B, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
- + Cháu Trần Tiến D, sinh ngày 04/02/2009
Người đại diện hợp pháp của cháu Trần Tiến D: Anh Trần Văn Q và chị Trần Thị P (là bố mẹ đẻ)
Người giám hộ: Bà Đinh Thị Hin L4 (là bà nội)
Đều trú tại: Số nhà G, đường Đ, tổ B, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cháu Trần Tiến D: Bà Đinh Thị Thu T2 - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T.
- + Anh Vũ Tuấn B, sinh năm 2004; Địa chỉ: Số nhà G, đường Đ, tổ B, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
Trong vụ án còn có các bị cáo Vũ Quang V, Tô Duy K, Bùi Thái B1, Đặng Huy H2, Tạ Ngọc H3 không kháng cáo, không bị kháng cáo, không bị kháng nghị, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do bị nhóm thanh niên tại huyện K, tỉnh Thái Bình đuổi đánh vào ngày 07/8/2023. Ngày 08/8/2023 các bị cáo Bùi Minh L, Vũ Quang V, Nguyễn Văn T, Phạm Văn M, Tạ Ngọc H3, Nguyễn Thế A tập trung ở phòng trọ của Bùi Thái B1 tại thôn Đ, xã T, huyện T. Sau đó các bị cáo rủ nhau đi tìm nhóm thanh niên hôm trước bắt nạt mình đánh. Khi này các bị cáo lấy 03 ống tuýp sắt tại phòng trọ cùng 01 gậy rút 3 khúc của B1. L và V đi mượn một phóng lợn (tuýp sắt gắn dao nhọn) của Nguyễn Đức L5 bạn L cũng như B1 gọi cho Đặng Huy H2 đến nhà của Nguyễn Đức C1 lấy 01 dao mèo, 01 kiếm ống (tuýp sắt gắn lưỡi dao nhỏ) cùng Nguyễn Thế A, H2 có gọi cho Hoàng Ngọc H4 đến phòng trọ của B1 đón (số hung khí này của L gửi ở nhà C1). Khi các bị cáo tập trung tại cây Xăng xã T thì gặp bị cáo Tô Duy K đến. K nói chuyện bạn K vừa bị nhóm Kiến X đánh thì L nói không liên quan. Bây giờ đám L đi tìm đánh nhóm Kiến X thì K báo cho đi cùng và được H2 đưa cho con dao mèo. Lúc này nhóm của các bị cáo gồm 11 người đi trên 6 xe là: Lợi chở V trên xe Wave a màu đen (BKS 17B8 - 466.56) đã tháo biển kiểm soát cầm theo phóng lợn; T chở M trên xe Wave a màu đen (BKS 17B7 - 496.41) đã tháo biển kiểm soát cầm theo 02 tuýp sắt; B1 chở H3 trên xe Wave a màu xanh đậm, BKS 17B8 - 546.36 cầm 01 tuýp sắt và cất 01 gậy 3 khúc trong cốp xe; Thế A chở H2 trên xe Airblade màu đen, BKS 17B8 - 561.20 cầm theo kiếm ống; Nguyễn Đức C1 chở Hoàng Ngọc H4 (đều sinh năm 2008) trên xe Wave a màu đen, BKS 17B8 - 396.50 không mang theo gì; Tô Duy K đi một mình trên xe Wave a màu xanh, BKS 29G1 - 932.02 cầm theo con dao mèo. Cả nhóm đi theo hướng ngã 4 T đi ngã ba Gốc gạo - xã A, huyện T về A, thị trấn K, huyện K. Khi đi đến trạm bơm T4 xã A thì K vượt lên trước lấy 01 két bia Hà Nội tại khu vực trước cửa hàng xe máy Honda H, bên trong có khoảng 10 vỏ chai bia màu nâu (K đã chuẩn bị khi đi đón bạn bị đánh ở K về lúc trước). Đến ngã 3 Đ, xã A cả nhóm dừng lại K phát cho mỗi xe 2 vỏ chai bia, lúc này T cũng lấy 01 bóng đèn tuýp dài 1,2m cầm ở tay, xe của C1, H4 không cầm theo gì rồi cả nhóm tiếp tục di chuyển về hướng A, thị trấn K.
Khi vừa đi qua cổng chào huyện T tại xã A gần hết dải phân cách làn đường 2 chiều thì nhìn thấy có 02 xe máy, 01 xe Vision, BKS 17B9 -470.91 do Trần Văn C điều khiển chở theo Nguyễn Thị Diệu L6, Nguyễn Nhật P1 và 01 xe Wave a màu xanh, BKS 17B9 - 516.83 do Vũ Tấn B2 điều khiển chở Trần Văn D1 – sinh năm 2009, Nguyễn Trung N đi từ thành phố T - huyện K về huyện T vừa đi vừa lạng lách, đánh võng, bấm còi. Thấy vậy L hô lên “Đúng chúng nó rồi” thì cả nhóm quay xe vòng lại đuổi theo nhóm của C, lần lượt theo thứ tự xe L chở V, xe T chở M, xe B1 chở H3, xe Thế A chở H2, xe K, xe C1 chở H4. Thấy có nhóm thanh niên đuổi theo
mình thì nhóm của C điều khiển tăng ga bỏ chạy về hướng T, đi qua trại giống vật nuôi khoảng 20m thì xe của L đuổi kịp đi song song xe Vision do C điều khiển thì V giơ phóng lợn đánh về phía người Phi 02 - 03 phát (phần cán trúng vào người). L ném 02 vỏ chai bia về phía xe này thì một chai trúng vào đầu P1, một chai trúng vào phần đỉnh đầu phía sau gáy C làm C bị choáng lao xe vào vỉa hè bên tay phải thì C, chị L6, anh P1 ngã ra đường. Lúc này T ném bóng tuýp điện về phía nhóm người này nhưng không trúng ai thì L và T cùng những xe đi phía sau không dừng lại mà tiếp tục điều khiển xe đuổi theo xe máy Wave a do anh B2 điều khiển. Nhóm của L vừa đuổi theo vừa hô “ĐM chúng mày dừng lại” thấy xe không dừng lại thì M, Thế A và những người khác ném vỏ chai bia về nhóm này nhưng không trúng. Khi đuổi đến T4 thì T điều khiển xe chở M chạy theo đường V để chặn đầu ở ngã ba ông T3. Các xe khác tiếp tục đuổi đến đoạn ngã ba gốc gạo thuộc thị trấn T thì anh B2 vòng xe quay lại bỏ chạy nhưng xe bị trượt bánh đổ ra đường. Lúc này Thế A ném vỏ chai bia về phía đám B2 nhưng không trúng. D1 đứng lại thì bị B1, H3, Thế A, H2 và V đi tới giữ lại. H3 cầm tuýp sắt giơ lên vụt 2 phát trúng vào bả vai và đùi, H2 cầm kiếm ống xoay ngược đầu rồi dùng phần cán vụt 01 phát trúng vào lưng, V cầm phóng lợn vụt 2-3 phát vào tay của anh D1. B2, N để lại xe bỏ chạy vào ngõ gần đó thì L, Thế A phóng xe đuổi theo nhưng phát hiện nhầm người nên không đánh. Sau đó cả nhóm của L lên xe đi về. Hậu quả là anh Trần Văn C bị tổn thương cơ thể là 17%, anh Trần Tiến D bị tổn thương cơ thể là 1%.
Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể số 398 ngày 29/9/2023 và bản kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể số 521 ngày 07/12/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận: anh Trần Văn C bị gãy 1/3 xương đòn trái, vùng thái dương đỉnh trái có 01 vết sẹo nhỏ, mặt trước khớp ức đòn trái có 1 vết sẹo nhỏ, mặt trước 1/3 ngoài xương đòn trái có vết sẹo trung bình, mu bàn chân phải sát gốc ngón 1, đốt 1 có sẹo nhỏ; mặt ngoài 1/3 trên đùi trái trên đám xước da có sẹo nhỏ; mặt trước gối trái có đám xước da đã bong vảy làm tăng sắc tố; mặt mu bàn chân trái có đám xước da đã bong vảy làm tăng sắc tố. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với anh Trần Văn C tại thời điểm giám định là 17%.
Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể số 405 ngày 06/10/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận: anh Trần Tiến D trên vùng cột sống lưng tương ứng L1 có một vết sẹo nhỏ. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với anh Trần Tiến D tại thời điểm giám định là 1%.
Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2024/HS-ST ngày 17/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình quyết định:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Bùi Minh L, Vũ Quang V, Phạm Văn M, Nguyễn Văn T, Nguyễn Thế A, Tô Duy K, Bùi Thái B1, Đặng Huy H2, Tạ Ngọc H3 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Về hình phạt:
- 2.1 Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 98 và Điều 101 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Bùi Minh L, xử phạt: Bùi Minh L 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- 2.2 Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 98 và Điều 101 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thế A, xử phạt: Nguyễn Thế A 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- 2.3 Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Phạm Văn M, Nguyễn Văn T xử phạt:
- 2.3.1 Bị cáo Nguyễn Văn T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- 2.3.2 Bị cáo Phạm Văn M 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với các bị cáo Vũ Quang V, Tô Duy K, Bùi Thái B1, Đặng Huy H2, Tạ Ngọc H3, quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo đối với các bị cáo.
Ngày 22/5/2024, bị cáo Bùi Minh L và người đại diện hợp pháp của bị cáo Bùi Minh L, bị cáo Nguyễn Thế A và người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Thế A kháng cáo; ngày 23/5/2024, bị cáo Nguyễn Văn T kháng cáo; ngày 27/5/2024, bị cáo Phạm Văn M kháng cáo. Các bị cáo và người đại diện hợp pháp đều kháng cáo xin giảm hình phạt và xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa các bị cáo và đại diện hợp pháp của bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung án sơ thẩm đã kết luận đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo để có cơ hội sửa chữa sai phạm trở thành công dân có ích cho xã hội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như nội dung kháng cáo của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Bùi Minh L, Nguyễn Văn T, Phạm Văn M. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 41/2024/HS-ST ngày 17/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình về hình phạt đối với các bị cáo Bùi Minh L, Nguyễn Văn T, Phạm Văn M.
- - Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thế A, sửa bản án sơ thẩm số 41/2024/HS-ST ngày 17/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo đối với bị cáo Nguyễn Thế A.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận và nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo thấy: Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 08/8/2023 các bị cáo Bùi Minh L, Vũ Quang V, Bùi Thái B1, Tạ Ngọc H3, Nguyễn Thế A, Đặng Huy H2, Tô Duy K, Nguyễn Văn T, Phạm Văn M và các anh Nguyễn Đức C1, Hoàng Ngọc H4 đã dùng xe máy và hung khí nguy hiểm (phóng lợn, dao mèo, kiếm ống, tuýp sắt, vỏ chai bia, bóng điện tuýp) do tưởng nhầm nhóm các anh Trần Văn C, Nguyễn Trung N, Nguyễn Nhật P1, Vũ Tuấn B, Trần Tiến D và chị Nguyễn Thị Diệu L6 là nhóm đánh các bị cáo hôm trước nên đã đuổi đánh trên trục đường tỉnh lộ 37B từ trại giống chăn nuôi đến ngã ba gốc gạo thị trấn T. Kết quả làm xe do anh Trần Văn C điều khiển ngã tại thôn T, xã A, huyện T cách trại giống chăn nuôi khoảng 20m dẫn đến anh C bị gẫy 1/3 xương đòn trái, xây xát, rách da vùng thái dương đỉnh trái, tay, chân với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể 17%. Anh Trần Tiến D ngã xe và bị đánh tại ngã 3 gốc gạo thị trấn T bị xây xát, rách da vùng lưng với tỷ lệ tổn thương cơ thể 1%. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự, an toàn công cộng, gây mất trật tự trị an xã hội và bức xúc trong nhân dân. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố các bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng pháp luật.
[2] Xét nội dung kháng cáo của các bị cáo thấy:
[2.1] Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, các bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại, anh Vũ Tuấn B có đơn giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, anh Trần Văn C có đơn giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo L, ông bà ngoại của bị cáo L được tặng huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhì, hạng ba, do đó, các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn T và bị cáo Phạm Văn M cung cấp tài liệu ông nội của các bị cáo là người có công với cách mạng nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thấy, bị cáo L là người chưa thành niên nhưng giữ vai trò đứng đầu trong vụ án, các bị cáo T, M tham gia với vai trò tích cực. Bản án sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo và xử phạt bị cáo Bùi Minh L 01 năm 09 tháng tù, bị cáo Nguyễn Văn T và Phạm Văn M 02 năm 03 tháng tù là phù hợp. Do đó, không có căn cứ để xem xét giảm hình phạt và chuyển biện pháp chấp hành hình phạt tù sang cải tạo tại địa phương cho các bị cáo L, M, T.
[2.2] Bị cáo Nguyễn Thế A giữ vai trò giúp sức trong vụ án, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo là người chưa thành niên, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo tại địa phương. Do đó, bị cáo Thế A có đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết 02/2022/VBHN-HĐTP ngày 07/9/2022 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
[3] Từ những nhận định trên, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Bùi Minh L và người đại diện hợp pháp của bị cáo L, các bị cáo Nguyễn Văn T, Phạm Văn M, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt của các Bùi Minh L, Nguyễn Văn T, Phạm Văn M. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thế A và người đại diện hợp pháp của bị cáo Thế A, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt, cho bị cáo Thế A được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo Thế A cũng đủ tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[4] Về án phí: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Minh L và người đại diện hợp pháp của bị cáo L, các bị cáo Nguyễn Văn T, Phạm Văn M nên các bị cáo L, T, M phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thế A được chấp nhận nên bị cáo Thế A không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng điểm a khoản 1 điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Minh L và người đại diện hợp pháp của bị cáo L, các bị cáo Nguyễn Văn T, Phạm Văn M, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 41/2024/HSST ngày 17 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình về hình phạt của bị cáo Bùi Minh L, Nguyễn Văn T, Phạm Văn M.
- Áp dụng điểm b khoản 1 điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thế A và người đại diện hợp pháp của bị cáo Thế A, sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 41/2024/HSST ngày 17 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình về biện pháp chấp hành hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thế A.
- Về hình phạt:
- 3.1. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 98 và Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Minh L 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- 3.2. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- 3.3. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn M 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- 3.4. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65; Điều 90; Điều 91; Điều 98 và Điều 101 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thế A 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”, thời gian thử thách là 03 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình quản lý, giám sát trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
- Về án phí: Áp dụng điểm a, h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Thế A không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Các bị cáo Bùi Minh L, Nguyễn Văn T, Phạm Văn M mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án 07/8/2024./.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (đã lưu) Phạm Ngọc Thành |
Bản án số 55/2024/HS-PT ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 55/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 07/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: sửa bản án sơ thẩm
