|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 55/2024/HNGĐ-ST Ngày: 06 - 8 - 2024 V/v "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn " |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Xuân Thành
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Đăng Thảnh
Bà Hà Thị Hòa
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quý Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Tuấn - Kiểm sát viên
Ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân, huyện N, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 87/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2024/QĐXXST- HNGĐ, ngày 19 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị K - Sinh năm: 1995
Địa chỉ: Làng L, xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
- Bị đơn: Anh Quách Thành T - Sinh năm: 1987
Địa chỉ: Làng L, xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Tại phiên tòa chị Lê Thị K và anh Quách Thành T đều vắng mặt. Chị K và anh T đều có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lê Thị K trình bày: Chị và anh Quách Thành T tự nguyện tìm hiểu về chung sống như vợ chồng từ năm 2012, nhưng mãi đến ngày 15/3/2013 vợ chồng với đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được 12 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp tính nhau nên thường xuyên bất đồng về quan điểm sống, cách làm ăn cư xử trong gia đình dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống vợ chồng không còn tiếng nói chung, khi mâu thuẫn xảy ra đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả, mâu thuẫn trầm trọng nhất kể từ đầu năm 2022 cho đến nay, kể từ đó vợ chồng sống ly thân nhau, không còn quan tâm chăm sóc nhau. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc giải quyết cho chị được ly hôn với anh Quách Thành T.
Về con chung: Quá trình chung sống chị và anh T có 02 con chung là Quách Tứ T1; sinh ngày 12/02/2014 và Quách Thị Yến T2; sinh ngày 23/10/2012. Hiện nay cả hai cháu đang ở với anh T. Ly hôn chị có nguyện vọng giao cả hai cháu T1 và T2 cho anh Quách Thành T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đến tuổi trưởng thành, chị cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh T mỗi tháng 2.000.000₫ một cháu, cả hai cháu một tháng là 4.000.000đ.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Quách Thành T trình bày: Anh và chị Lê Thị K tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn ngày 15/3/2013 tại UBND xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do trước đây chị K đi làm ăn xa ở nước ngoài nên đã có mối quan hệ tình cảm với người đàn ông khác. Nay chị Lê Thị K làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc giải quyết ly hôn với anh thì anh cũng đồng ý ly hôn.
Về con chung: Quá trình chung sống anh và chị K có 02 con chung là Quách Tứ T1; sinh ngày 12/02/2014 và Quách Thị Yến T2; sinh ngày 23/10/2012. Hiện tại hai cháu T1 và T2 đang ở với anh. Nay ly hôn nguyện vọng của anh là được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu T1 và T2 cho đến khi các cháu đến tuổi trưởng thành, anh yêu cầu chị K phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh mỗi tháng 2.000.000₫ một cháu, cả hai cháu một tháng là 4.000.000đ.
Về tài sản chung: Anh yêu cầu chị K cùng anh trả các khoản nợ trong thời kỳ hôn nhân nếu không trả thì anh không đồng ý ly hôn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án là đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 28, 35, 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự và các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình. Xử cho chị Lê Thị K được ly hôn với anh Quách Thành T. Vợ chồng có hai con chung là Quách Tứ T1; sinh ngày 12/02/2014 và Quách Thị Yến T2; sinh ngày 23/10/2012. Đề nghị chấp nhận sự tự nguyện của các đương sự về việc giao nuôi con chung, giao cả hai cháu T1 và T2 cho anh T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đến tuổi trưởng thành. Chị K phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh T mỗi tháng 2.000.000₫ một cháu, cả hai cháu một tháng là 4.000.000đ cho đến khi các cháu đến tuổi trưởng thành. Chị K được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản. Buộc chị K phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Chị Lê Thị K khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với anh Quách Thành T. Theo quy định tại Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.
Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho các bên đương sự nhưng chị Lê Thị K và anh Quách Thành T không có mặt nên Tòa án đã thông báo kết quả kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho chị K, anh T theo quy định tại khoản 3 điều 210 BLTTDS.
Chị Lê Thị K và anh Quách Thành T đã được triệu tập đến phiên hoà giải nhưng chị K và anh T không đến để tham gia hoà giải nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 điều 207 BLTTDS.
Chị Lê Thị K và anh Quách Thành T đều có đơn xin xét xử vắng mặt do đó Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt chị Lê Thị K và anh Quách Thành T.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị K và anh Quách Thành T kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 15/3/2014 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình giải quyết vụ án chị K cho rằng, mâu thuẫn vợ chồng không thể hòa giải được do vợ chồng không hợp tính nhau, bất đồng quan điểm sống, nên thường xuyên xảy ra cãi vã, về phía anh T cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn là do chị K đã có tình cảm với người đàn ông khác nên vợ chồng không còn tình cảm với nhau, chị K và anh T đều thừa nhận thời gian vợ chồng ly thân nhau cũng kéo dài, hiện tại không còn quan tâm chăm sóc nhau nữa. Việc này đã được chính quyền Ủy ban nhân dân xã P xác nhận và cũng phù hợp với nội dung Biên bản xác minh tình trạng hôn nhân mà Tòa án đã tiến hành thu thập. Nay chị K làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh T, chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần căn cứ Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Lê Thị K được ly hôn với anh Quách Thành T.
[3] Về con chung: Quá trình chung sống chị Lê Thị K và anh Quách Thành T có với nhau 02 con chung là Quách Tứ T1; sinh ngày 12/02/2014 và Quách Thị Yến T2; sinh ngày 23/10/2012. Ly hôn chị K và anh T đều có nguyện vọng giao cả hai cháu T1 và T2 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đến tuổi trưởng thành. Hội đồng xét xử xét thấy đây là sự tự nguyện của các đương sự, đồng thời cũng phù hợp với nguyện vọng của các cháu nên chấp nhận. Chị Lê Thị K có quyền được đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cản là phù hợp theo quy định tại các Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Tại bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án chị Lê Thị K anh Quách Thành T thống nhất giao hai con cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng chị K có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh T mỗi tháng 2.000.000đ cho một cháu, cả hai cháu một tháng là 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng), xét đây là sự tự nguyện của đương sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về chia tài sản chung: Chị Lê Thị K không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên hội đồng xét xử không xét.
Anh Quách Thành T trong bản tự khai có quan điểm là anh yêu cầu chị K cùng anh trả các khoản nợ trong thời kỳ hôn nhân, tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án anh T không giao nộp các tài liệu chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình, quá trình hòa giải anh không có ý kiến gì đồng thời anh xin xét xử vắng mặt nên HĐXX xét thấy không đủ cơ sở để xem xét yêu cầu của anh Quách Thành T, dành quyền khởi kiện bằng vụ án khác khi anh T có yêu cầu là phù hợp với quy định của pháp luật.
[6] Về án phí: Buộc chị Lê Thị K phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
[7] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Tòa án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Các Điều 28, 35, 39; 147; 227; 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ: Các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ: Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị K được ly hôn với anh Quách Thành T.
- Về con chung: Giao cháu Quách Tứ T1; sinh ngày 12/02/2014 và Quách Thị Yến T2; sinh ngày 23/10/2012 cho anh Quách Thành T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đến tuổi trưởng thành.
Chị Lê Thị K được quyền được đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cấm, cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lê Thị K cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Quách Thành T mỗi tháng là 2.000.000₫ (Hai triệu đồng) cho một cháu, cả hai cháu là 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng) cho đến khi các cháu đến tuổi trưởng thành. Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 8 năm 2024.
- Về án phí: Chị Lê Thị K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm việc ly hôn là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) và án phí cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng). Tổng cộng án phí mà chị K phải chịu là 600.000₫ (Sáu trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số: 0004252 ngày 17 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.
Chị Lê Thị K còn phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ.
Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt chị K và anh T. Chị Lê Thị K và anh Quách Thành T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Xuân Thành |
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ | |
| Bùi Đăng Thảnh | Hà Thị Hòa | Phạm Xuân Thành |
Bản án số 55/2024/HNGĐ-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 55/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn
