TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số 55/2024/DS-PT Ngày 07/6/2024 “Yêu cầu công nhận giao dịch |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Ngọc
Các Thẩm phán: Bà Thái Thị Hồng Vân và bà Trần Thị Mỹ Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tâm - Kiểm sát viên.
Trong ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 151/2023/TLPT-DS ngày 28 tháng 12 năm 2023 về “Yêu cầu công nhận hiệu lực của giao dịch chuyển đổi quyền sử dụng đất và yêu cầu tuyên bố giao dịch chuyển đổi quyền sử dụng đất vô hiệu, chấm dứt giao dịch cho mượn quyền sử dụng đất”, do Bản án dân sự sơ thẩm số 19/2023/DS-ST ngày 06/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An bị kháng cáo theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 108/2024/QĐ-PT ngày 08 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: ông Lê Văn C, sinh năm 1962 và bà Phan Thị H, sinh năm 1965; địa chỉ: xóm P, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: chị Từ Thị Thanh N, sinh năm 1996 – Luật sư thuộc Văn phòng L5 – Đoàn Luật sư tỉnh N; có mặt.
Bị đơn: bà Hồ Thị C1, sinh năm 1968; địa chỉ: xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: ông Hoàng Văn D, Luật sư thuộc Văn phòng L6 – Đoàn Luật sư tỉnh N; vắng mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1966; địa chỉ: xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- Bà Lê Thị D1, sinh năm 1950; địa chỉ: đường T, khu phố A, phường E thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.
- Bà Lê Thị K, sinh năm 1960; địa chỉ: nhà A ngõ D khối A phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- Ông Lê Văn N2, sinh năm 1957; địa chỉ: số nhà F, ngõ I, đường H, phường N, Quận C, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
- Ông Lê Văn Q, sinh năm 1966; địa chỉ: số nhà D, khu phố E phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.
- Anh Lê Thành L, sinh năm 1985; địa chỉ: nhà A, tầng A, CT4, Khu đô thị M, L, H, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
- Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn L, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.
- Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1993; địa chỉ: xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Văn Q1, sinh năm 1999; Địa chỉ: xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1952; địa chỉ: xóm E xã V, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1958; địa chỉ: xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn C2, sinh năm 1962; địa chỉ: xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn K1, sinh năm 1974; địa chỉ: xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1969; địa chỉ: xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1972; địa chỉ: thị trấn C, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị N3, sinh năm 1976; địa chỉ: xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị H3, sinh năm 1989; địa chỉ: xóm T, xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1992; địa chỉ: thị trấn C, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị H4, sinh năm 1995; địa chỉ: xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.
- Chị Nguyễn Kiều T3, sinh năm 1989 và anh Lê Văn H5 – sinh năm 1988; địa chỉ: xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; anh H5 có mặt, chị T3 vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà T: bà Trương Thị N1 – sinh năm 1985, Luật sư thuộc Văn phòng L7 – Đoàn Luật sư tỉnh N; có mặt.
* Người đại diện theo ủy quyền của ông Q, anh L, ông N2, bà K, bà D1: chị Từ Thị Thanh N, sinh năm 1996; Địa chỉ: khối A, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An; có mặt.
* Người đại diện theo ủy quyền của anh V, anh H1, anh Q1: bà Hồ Thị C1, sinh năm 1968; Địa chỉ: xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; có mặt.
* Người đại diện theo ủy quyền của bà T, chị H4, chị T2, ông C2, bà L1, bà H2, bà N3, bà S, ông T1, ông K1: chị Nguyễn Thị H3, sinh năm 1989; Địa chỉ: xóm T, xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ An; có mặt.
Người làm chứng: ông Hồ Trọng T4, sinh năm 1952; địa chỉ: xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án sơ thẩm vụ án có nội dung:
- Trong Đơn khởi kiện đề ngày 25 tháng 11 năm 2022, lời khai quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn ông Lê Văn C – bà Phan Thị H, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn (chị Từ Thị Thanh N) đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan gồm ông Lê Văn Q, anh Lê Thành L, ông Lê Văn N2, bà Lê Thị K, bà Lê Thị D1) trình bày:
Cụ Nguyễn Thị Đ (còn có tên gọi khác là D2, Lê Thị Đ1 – chết năm 2008) có 06 người con gồm ông C (vợ là bà H), ông Lê Văn N2, ông Lê Văn K2, ông Lê Văn Q, bà Lê Thị K, bà Lê Thị D1, ông Lê Văn T5 (ông T5 chết năm 1989, có vợ là bà M và con trai là anh L); có chồng là cụ Lê Văn D3 (chết năm 1979). Năm 1994, vợ chồng ông C bà H nhờ cụ Đ1 đứng tên mua thửa đất số 59, tờ bản đồ số 6 (Bản đồ 299) diện tích 504m² tại xóm T, xã N, huyện N để sản xuất với giá 250.000 đồng nhưng chưa kê khai xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi được UBND xã giao đất, bà H và cụ Đ1 tiến hành canh tác. Ông bà và những người thừa kế của cụ Đ1 đều thừa nhận dù đất trên giấy tờ là của cụ Đ1 nhưng chủ sử dụng thực sự là ông C, bà H. Thửa đất này được gọi tên là “vườn Thịnh Lạc”.
Tuy nhiên, vì đất vườn Thịnh L2 xa nhà (và liền kề với thửa đất ở của vợ chồng ông Nguyễn Văn T6 bà Hồ Thị C1), sản xuất không thuận tiện nên gia đình ông C (cụ Đ1, bà H, ông C) và vợ chồng ông T6 bà C1 đã thống nhất đổi đất cho nhau, cụ thể: gia đình ông C đổi thửa số 59 cho vợ chồng ông T6 để lấy thửa đất số 727, tờ bản đồ số 01 (Bản đồ 299, được gọi tên là “Vườn cát”) diện tích 533m² của vợ chồng ông T6 bà C1 (thửa đất này ông T6 bà C1 đổi được từ cụ V1 vào năm 1991). Sau khi thống nhất, ông T6 và bà H đã lập “Giấy chuyển nhượng đổi vườn” đồng thời xin xác nhận của xóm trưởng đương thời là ông Lê Hồng Y (nay đã chết), được UBND xã N xác nhận ngày 26/3/1996 và được cán bộ địa chính ghi vào trong Sổ Địa chính để theo dõi. Hai thửa đất được đổi ngang không đền bù và nguyên thửa.
Kể từ khi đổi đất cho đến nay, gia đình ông C trực tiếp sử dụng thửa đất số 727 (theo Bản đồ địa chính thì thửa đất được định danh là thửa số 05, tờ bản đồ số 19) vào sản xuất, trồng cây lâu năm (bạch đàn, mít ...), xây 01 nhà nhỏ diện tích 18,15m² và nộp các loại thuế phí theo quy định của nhà nước. Vợ chồng ông T6 bà C1 trực tiếp sử dụng thửa đất số 59 (theo Bản đồ địa chính thì thửa đất được định danh là thửa số 128, tờ bản đồ số 02), sau đó còn thống nhất giao thửa đất này cho gia đình ông T7 bà T (vợ chồng anh trai ông T6) sử dụng làm nhà ở.
Từ năm 2017, ông bà có nguyện vọng được lập hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 05 nhưng bà C1 không đồng ý và gây khó khăn cho ông bà. Vì vậy, ông C bà H yêu cầu Tòa án công nhận giao dịch chuyển đổi quyền sử dụng thửa đất số 59 với thửa đất số 727 (thuộc xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An theo “Giấy chuyển nhượng đổi vườn” lập ngày 26/3/1996 giữa gia đình ông bà với vợ chồng ông T6 bà C1 đồng thời đề nghị công nhận cho ông bà quyền sử dụng đối với thửa đất số 05, tờ bản đồ 19 diện tích 637,7m² tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
Ngoài ra, vào năm 2020, vợ chồng anh H5 chị T3 (chủ sử dụng thửa đất số 221, liền kề thửa đất số 05 về phía Nam) xây dựng nhà cửa có lấn sang thửa 05 diện tích 10,1m² thì ông bà đồng ý làm thủ tục tách – hợp thửa cho anh H5 chị T3 phần diện tích này mà không yêu cầu anh H5 chị T3 phải bồi hoàn bằng tiền. Năm 2023, chủ sử dụng thửa đất số 04 ở phía Đông (ông T8, bà H6) làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên vợ chồng ông bà đã thống nhất ranh giới, góp vật liệu để xây bờ tường rào ngăn cách như hiện nay.
Ông bà không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn về việc tuyên giao dịch đổi đất theo “Giấy chuyển nhượng đổi vườn” lập ngày 26/3/1996 là vô hiệu và giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu, bởi vì: thứ nhất mặc dù bà C1 không ký vào Giấy nhưng bà C1 thừa nhận có sự việc đổi đất; thứ hai cả hai bên đổi đất đã sử dụng ổn định từ khi đổi cho đến nay và vợ chồng bà C1 còn thống nhất giao cho vợ chồng ông T7 bà T sử dụng thửa đất số 128; thứ ba: cụ Đ1 và ông bà là đồng chủ sử dụng đất, cùng thống nhất ý chí đổi đất nên không vi phạm về mặt chủ thể hợp đồng.
Ông bà không có ý kiến gì với yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị T cũng như yêu cầu phản tố của bà C1 đối với yêu cầu độc lập bởi vì không liên quan gì đến quyền lợi, nghĩa vụ của ông bà.
Về chi phí tố tụng: ông bà chấp nhận chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản là 10.900.000 đồng và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Quá trình chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa, bị đơn bà Hồ Thị C1 (đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của anh Nguyễn Văn V, Nguyễn Văn Q1, Nguyễn Văn H1) và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Hoàng Văn D trình bày: năm 1991, vợ chồng bà (Nguyễn Văn T6 – Hồ Thị C1) đổi đất cho gia đình ông V1 để lấy đất Vườn cát (tức thửa đất số 727 tờ bản đồ số 01 Bản đồ 299 và nay là thửa số 05 tờ bản đồ số 19 theo Bản đồ địa chính) để làm nhà ở. Tuy nhiên, do đất cát nóng, ở không được nên ông bà mua thêm thửa đất số 59 (nay là thửa đất 127, bên cạnh đất Vườn Thịnh Lạc của cụ D2) và dỡ nhà cũ sang dựng trên đất mới. Hiện thửa đất 127 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (cấp lần đầu theo Nghị định 64CP và cấp đổi năm 2014) còn thửa 05 thì vẫn chưa được cấp Giấy.
Thấy thửa đất 05 để không nên cụ D2 đặt vấn đề muốn đổi thửa đất số 59 của ông bà để sử dụng cho gần nhà với mục đích là sản xuất hoa màu, trồng rau nuôi lợn. Thấy hợp lý thì ông bà nhất trí, đổi thửa đất 05 (Vườn cát) cho cụ D2 còn ông bà lấy đất số 128 (vườn Thịnh Lạc) của cụ D2 để trồng rau màu. Ông bà đổi nguyên cả thửa, không phụ thêm, khi nào cần thì lấy lại. Khi đó trên đất vẫn còn 01 chuồng lợn đổ nát, 01 giếng nước và cây bạch đàn xung quanh; thỉnh thoảng bà có quay về Vườn cát để gánh nước nhưng sau này thì gia đình cụ D2 đã thu hoạch cây cối, dỡ chuồng lợn, san đất để sản xuất.
Khoảng năm 1998, vợ chồng ông Nguyễn Văn T9 – bà Nguyễn Thị T (ông T9 là anh trai ông T6) bán nhà đất chữa bệnh cho ông T9, không có chỗ ở nên xin ông bà cho mượn đất để có nơi ở và sau này còn đặt bàn thờ ông T9. Do thương ông T9 bệnh tật nên ông bà đồng ý cho ông T9 bà T 01 mảnh đất khác của gia đình nhưng ông T9 lại muốn ở trên thửa 128; mặc dù không được thoải mái song bà C1 vẫn chấp nhận cho mượn đất để ở. Vợ chồng bà cùng anh em trong gia đình hỗ trợ ông T9 dựng ngôi nhà phên đắp bùn, lợp proximăng; được mấy tháng sau thì ông T9 chết. Nhiều lần bà khuyên bà T sang ở trong ngôi nhà khang trang của mình nhưng bà T9 không chịu. Năm 2002, bà C1 đi xuất khẩu lao động, mỗi năm về nhà một lần và đến năm 2021 thì về hẳn. Việc đo bản đồ địa chính thửa 128 đứng tên bà T như thế nào bà không được biết. Năm 2015 -2016, nhà cũ của bà T bị cây quật đổ nên những người thiện tâm góp xây cho bà T 01 ngôi nhà 02 gian lợp tôn. Năm 2017, bà có về nước rồi tiếp tục đi, khoảng 3 tháng sau thì ông T6 chết, không để lại di chúc.
Ông T6 bà C1 kết hôn năm 1987 và sinh được 3 người con gồm: Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn V, Nguyễn Văn Q1). Cha mẹ ông T6 là cụ Q2 (chết năm 2009) và cụ L3 (chết năm 2011).
Trước đây, bà C1 đã trao đổi với bà H về việc bà C1 sẽ làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất 05 còn bà H làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa 128 rồi mới tiến hành thủ tục đổi đất tiếp nhưng do bà H không đồng ý nên xảy ra tranh chấp.
Bà C1 và các anh V, H1, Q1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đồng thời yêu cầu phản tố đề nghị tuyên giao dịch chuyển đổi quyền sử dụng 2 thửa đất số 05 và số 128 theo “Giấy chuyển nhượng đổi vườn” lập ngày 26/3/1996 là vô hiệu và buộc ông C bà H tháo dỡ ngôi nhà xây trên đất để trả lại thửa đất số 05 cho mẹ con bà đồng thời bà có trách nhiệm trả lại thửa đất số 128 cho gia đình cụ D2, không yêu cầu bồi thường thiệt hại. Lý do bà C1 đề nghị tuyên giao dịch vô hiệu là bởi: thứ nhất là cả 2 thửa đất chưa có giấy tờ hợp pháp nên theo quy định tại Điều 30 Luật Đất đai 1993 thì không đủ điều kiện để chuyển quyền; thứ hai là bà C1 không có giao dịch gì với ông C bà H về đất đai; thứ ba là bà không biết chữ ký Nguyễn Văn T6 trong “Giấy chuyển nhượng đổi vườn” có phải do ông T6 ký hay không và tuy bà không yêu cầu trưng cầu giám định chữ ký của ông T6 nhưng kể cả trường hợp ông T6 ký vào thì do thửa 05 là tài sản chung vợ chồng ông bà, bà chưa đồng ý thì ông T6 cũng không được quyền tự định đoạt; thứ tư là việc bà với cụ D2 đổi đất cho nhau là để sản xuất nông nghiệp chứ không phải để ở.
Đồng thời bà C1 cũng yêu cầu chấm dứt giao dịch mượn tài sản là quyền sử dụng thửa đất số 128 giữa vợ chồng bà với vợ chồng bà T và buộc bà Nguyễn Thị T phải tháo dỡ ngôi nhà, trả lại thửa đất số 128 để bà trả lại nguyên trạng đất sản xuất cho gia đình cụ D2 (bà C1 không bồi thường trị giá ngôi nhà trên đất cho bà T). Bà cũng không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà T bởi vì vợ chồng ông bà chưa bao giờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông T9 bà T. Vợ chồng bà không nhận số tiền 500.000 đồng như trình bày của phía bà T; còn ao đầu làng thì do ông T9 cho mượn nên ông bà có nuôi cá một thời gian ngắn chứ không phải phụ mua đất, sau đó bà C1 đi nước ngoài thì không sử dụng nữa.
Năm 2020, vợ chồng anh H5 chị T3 (chủ sử dụng thửa đất liền kề thửa đất số 05 về phía Nam) xây dựng nhà cửa có lấn sang thửa 05 diện tích 10,1m² thì mẹ con bà đồng ý làm thủ tục tách – hợp thửa cho anh H5 chị T3 phần diện tích này nhưng anh H5 chị T3 phải bồi hoàn số tiền tương ứng diện tích đất trên cho bà. Ngoài ra trên phía Bắc thửa 128 còn có bờ móng cũ của vợ chồng bà xây dựng lấn sang 4,5m² thì mẹ con bà đồng ý tháo dỡ bờ móng để trả nguyên trạng thửa 128.
- Quá trình chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T, người đại diện theo ủy quyền của bà T là chị Nguyễn Thị H3 (đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan), người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà T là chị Trương Thị N1 trình bày: vợ chồng ông Nguyễn Văn T9 (anh trai ông T6) và bà Nguyễn Thị T sinh được 4 người con là Nguyễn Thị H3, Nguyễn Thị T2, Nguyễn Thị H4, Nguyễn Văn H7 (sinh năm 1999, chết năm 2006). Năm 1996, theo sắp xếp của cha mẹ (cụ Q2, cụ L3), ông T9 bà T đã bán thửa đất cũ và mua lại thửa đất số 59 (tức thửa 128 hiện nay) của ông T6 bà C1 với giá 500.000 đồng + phụ thêm 01 ao nuôi cá phía đầu làng (đây là thửa đất sản xuất ông T9 đổi cho ông H8 từ năm 1986, đến năm 1996 thì ông T9 thuê người đào ao thả cá). Thời điểm đó, việc giao tiền và ao thì các cụ cùng anh chị em ruột thịt trong gia đình (bà H2, bà L1, ông K1, ông T1, bà N3, bà S) đều chứng kiến nhưng vì lúc đó anh em đang đùm bọc nhau không làm giấy tờ mua bán. Sau khi mua đất, anh chị em ruột của ông T9 (gồm cả ông T6) hỗ trợ ông bà dựng ngôi nhà cấp 4, lợp proximang, xung quanh thưng phên để ở. Một thời gian sau, năm 2000 ông T9 chết, mẹ con bà T tiếp tục sinh sống đến khoảng năm 2015-2016 thì bão làm sập nhà nên người dân trong xã cùng chính quyền địa phương và các mạnh thường quân đã góp tiền của xây cho bà T 1 ngôi nhà taplo lợp tôn (hiện đang còn trên đất). Do bà T ở một mình lại ốm đau, bệnh tật nên được con gái đưa vào Quảng Ngãi để chữa bệnh.
Nay bà T yêu cầu Tòa án công nhận giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 59 (nay là thửa 128) giữa vợ chồng bà với vợ chồng bà C1 ông T6. Bà T không chấp nhận việc bà C1 cho rằng vợ chồng ông bà chỉ mượn đất và không đồng ý trả lại thửa đất 128 như yêu cầu phản tố của bà C1. Bà T cũng yêu cầu bà C1 phải tháo dỡ phần bờ móng để bà được sử dụng.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị T2, Nguyễn Thị H4 (ủy quyền cho chị Nguyễn Thị H3) đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu độc lập của bà T, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà C1 và giao toàn bộ quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến thửa đất số 128 cho bà T toàn quyền sử dụng.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn K1, bà Nguyễn Thị N3 (có mặt tại phiên tòa) và các ông bà Nguyễn Thị L1, bà Nguyễn Thị H2, Nguyễn Văn C2, Nguyễn Viết T10, Nguyễn Thị S (là những người đã ủy quyền cho chị Nguyễn Thị H3) trình bày: các ông bà là con đẻ của cụ Nguyễn Văn Q3 (chết năm 2009), cụ Lê Thị L4 (chết năm 2011), là anh chị em ruột của ông Nguyễn Văn T6 (chồng bà C1), ông Nguyễn Văn T9 (chồng bà T). Các ông bà thừa nhận sự kiện ông T6 bà C1 đã bán thửa đất 128 cho vợ chồng ông T9 bà T và khoảng năm 1999 - 2000; việc mua bán là chủ ý của cha mẹ (cụ Q3, cụ L4), cả vợ chồng bà C1 ông T6 đã nhận số tiền 500.000 đồng và đã sử dụng ao đầu làng của ông T9 phụ thêm nuôi cá một thời gian rồi bỏ hoang cho đến nay. Vì là anh em ruột nên khi mua bán, giao tiền cũng không lập giấy tờ gì. Do ông T9 bị bệnh ung thư, nghèo khổ, bà T lúc đó đang mang thai con trai (Nguyễn Văn H7 – chết năm 2006) nên anh chị em trong nhà (bao gồm cả vợ chồng ông T6) đã góp tiền, góp công dựng cho ông T9 bà T một ngôi nhà thưng phên, lợp proximăng để ở. Sau mấy tháng, ông T9 chết. Bà T tiếp tục sử dụng đất đến năm 2015-2016 thì nhà bị bão quật đổ nên xóm làng, anh chị em, chính quyền địa phương và các doanh nghiệp đã góp tiền của xây cho bà T một ngôi nhà cấp 4 lợp mái tôn. Do bà T bị bệnh nên được con gái đưa vào Quảng Ngãi chữa bệnh, hiện nay bị tai nạn không tự đi lại được. Việc chuyển nhượng đất giữa vợ chồng ông T9 bà T với ông T6 bà C1 tuy không được lập thành văn bản nhưng cả cha mẹ cũng như anh chị em trong nhà đều biết. Vì vậy, các ông bà đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu độc lập của bà T; trường hợp các ông bà có quyền lợi gì trong thửa đất số 128 thì đều nhường lại cho bà T và các con của ông T9.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Lê Văn H5 và chị Nguyễn Kiều T3 trình bày: anh chị là chủ sử dụng thửa đất số 221, tờ bản đồ số 19 tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An (liền kề với thửa đất số 05). Năm 2021, khi xây nhà, anh chị đã nhờ công chức địa chính về xác định mốc giới nhưng vì không thuê máy đo nên hiện nay có 10,1m² công trình kiến trúc (nhà, bờ tường rào, sân, nhà vệ sinh) của anh chị lấn sang thửa đất số 05. Do ông C, bà H đồng ý để vợ chồng anh chị tiếp tục sử dụng 10,1m² này và làm thủ tục tách hợp thửa cho anh chị theo quy định mà không phải hoàn trả trị giá đất thì anh chị nhất trí. Anh chị không có ý kiến gì về việc bà C1 yêu cầu bồi hoàn trị giá 10,1m² chồng lấn.
Trong lời khai ngày 05/9/2023, người làm chứng ông Hồ Trọng T4 trình bày: ngày 26/3/1996, ông T6 (chồng bà C1) lên gặp ông (lúc này ông là Ủy viên văn phòng, nguyên Phó chủ tịch UBND xã N) để xin xác nhận vào Giấy chuyển nhượng đổi vườn giữa gia đình ông T6 bà C1 với gia đình bà H ông C. Khi kiểm tra thấy có đủ chữ ký của ông T6, bà H và của nguyên xóm trưởng (ông Lê Hồng Y) nên ông đã viết đồng ý thỏa thuận đổi vườn của hai gia đình. Bản thân ông cũng biết việc gia đình ông T9 bà T sử dụng thửa đất số 128 nhưng không biết ông T9 bà T với ông T6 bà C1 có giao dịch gì hay không.
Bản án sơ thẩm số 19/2023/DSST ngày 06/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc đã quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông C, bà H công nhận giao dịch chuyển đổi quyền sử dụng thửa đất Vườn Thịnh lạc số 59, tờ bản đồ số 06 (nay là thửa số 128, tờ bản đồ số 02 diện tích 480,7m²) với thửa đất “Vườn cát” số 727, tờ bản đồ số 01 (nay là thửa số 05, tờ bản đồ số 19 diện tích 637,7m²) với thửa đất vườn Cát số 727, tờ bản đồ số 01 tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An giữa các bên chuyển đổi là cụ Nguyễn Thị Đ (cụ D2, Lê Thị Đ1), ông Lê Văn C, bà Phan Thị H với ông Nguyễn Văn T6, bà Hồ Thị C1 theo Giấy chuyển nhượng đổi vườn lập ngày 26/3/1996.
- Tạm giao cho ông Lê Văn C và bà Phan Thị H quyền sử dụng đối với 627,6m² đất tại thửa đất số 05, tờ bản đồ số 19, tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An trong thời gian chờ thực hiện các thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
- Ông Lê Văn C và bà Phan Thị H có nghĩa vụ thực hiện việc tách 10,1m² về phía Nam của thửa đất số 05 cho anh Lê Văn H5 và chị Nguyễn Kiều T3 sử dụng và hợp vào thửa đất số 121, tờ bản đồ số 19 tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Anh H5 và chị T3 có nghĩa vụ phối hợp với ông C bà H thực hiện thủ tục tách – hợp 10,1m² đất nêu trên theo quy định của pháp luật.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Hồ Thị C1 về việc tuyên giao dịch chuyển đổi thửa đất Vườn Thịnh lạc số 59, tờ bản đồ số 06 (nay là thửa số 128, tờ bản đồ số 02 diện tích 480,7m²) với thửa đất “Vườn cát” số 727, tờ bản đồ số 01 (nay là thửa số 05, tờ bản đồ số 19 diện tích 637,7m²) tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An là vô hiệu.
- Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị T về việc công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 128, tờ bản đồ số 02 tại xóm T xã N.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Hồ Thị C1 về việc chấm dứt giao dịch mượn quyền sử dụng thửa đất số 59, tờ bản đồ số 06 (nay là thửa đất số 128, tờ bản đồ số 02) tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An giữa ông Nguyễn Văn T6, bà Hồ Thị C1 với ông Nguyễn Văn T9, bà Nguyễn Thị T.
- Trích công sức bảo quản, giữ gìn và nâng cao trị giá tài sản cho bà Nguyễn Thị T 220,1m² đất tại thửa 128 và tạm giao cho bà T sử dụng trong thời gian chờ thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.
- Buộc bà Nguyễn Thị T phải trả lại cho bà Hồ Thị C1, anh Nguyễn Văn V, anh Nguyễn Văn Q1, anh Nguyễn Văn H1 260,6m² đất thuộc thửa 128, tờ bản đồ số 02 tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Tạm giao cho bà C1, anh V, anh Q1, anh H1 sử dụng 260,6m² đất trong thời gian chờ thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 10/10/2023, bà Hồ Thị C1 làm đơn kháng cáo với nội dung: Kháng cáo toàn bộ bản án. Đề nghị cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Lý do: Đất của bà C1 và bà D2 không có giấy tờ hợp pháp, không đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền, gia đình bà C1 không có giao dịch chuyển đổi đất với bà H, bà H không đủ điều kiện thực hiện việc chuyển đổi đất vì đất không phải của bà H, ông T6 bà H chuyển đổi cho nhau lô đất nào tôi không được biết và bà H không có đất tại địa phương; Tòa án buộc bà C1 trích một phần thửa đất 128 là không có căn cứ vì gia đình bà C1 không mua bán, chuyển nhượng với bà T, bởi thửa đất này không phải của gia đình bà C1.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn bà Hồ Thị C1 giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Nguyên đơn không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà C1 đề nghị giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án và các bên đương sự chấp hành đúng các quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS: không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Hồ Thị C1, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự, kết quả tranh tụng và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa phúc thẩm. Xét kháng cáo của bị đơn bà Hồ Thị C1, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Bị đơn bà Hồ Thị C1 làm đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, đã nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo quy định nên xác định kháng cáo hợp lệ.
[1.2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa phúc thẩm, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được triệu tập hợp lệ lần thứ hai vắng mặt không có lý do, không có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228, 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[1.3] Về quan hệ pháp luật, thời hiệu và thẩm quyền giải quyết vụ án: Các đương sự tranh chấp về các giao dịch chuyển đổi, chuyển nhượng, cho mượn quyền sử dụng đất. Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ khoản 2 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 29; điểm g khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Yêu cầu công nhận hiệu lực của giao dịch chuyển đổi quyền sử dụng đất và yêu cầu tuyên bố giao dịch chuyển đổi quyền sử dụng đất vô hiệu, chấm dứt giao dịch cho mượn quyền sử dụng đất”, thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền và còn trong thời hiệu khởi kiện theo quy định của pháp luật.
[2] Xét nội dung kháng cáo của bà Hồ Thị C1, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[2.1] Về nguồn gốc của thửa đất số 5, tờ bản đồ số 19 (theo bản đồ 299 là thửa đất số 727, tờ bản đồ số 01, được gọi tên là “Vườn cát”) diện tích 533m² tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An và thửa đất số 128, tờ bản đồ số 02 (theo bản đồ 299 là thửa đất số 59, tờ bản đồ số 6) diện tích 504m² thuộc xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
Căn cứ Phiếu thu số 101, ngày 05/7/1994, Giấy chuyển nhượng đổi vườn lập ngày 26/3/1996, Công văn số 86/UBND-ĐC ngày 12/9/2023 của Ủy ban nhân dân xã N, huyện N và lời trình bày của các đương sự, có cơ sở xác định:
Thửa đất số 5, tờ bản đồ số 19 (theo bản đồ 299 là thửa đất số 727, tờ bản đồ số 01, được gọi tên là “Vườn cát”) diện tích 533m² tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An có nguồn gốc do Hợp tác xã Nghi Vạn cấp đất ở cho ông Lê Văn V2 từ năm 1976, ông V2 xây dựng nhà ở đến năm 1992 thì đổi cho bà Hồ Thị C1 và ông Nguyễn Văn T6. Ông T6, bà C1 ở đến năm 1996 thì đổi đất này cho bà H. Bà H sử dụng trồng cây cối, hoa màu, năm 2020 thì xây 01 căn nhà có diện tích 18,15m².
Thửa đất số 128, tờ bản đồ số 02 (theo bản đồ 299 là thửa đất số 59, tờ bản đồ số 6) tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An có nguồn gốc của ông C, bà H nhờ cụ Đ1 (mẹ ông C, mẹ chồng bà H) đứng tên mua vào năm 1994 với giá 250.000 đồng, có diện tích 504m² để sản xuất nhưng chưa kê khai xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi được Ủy ban nhân dân xã giao đất, bà H và cụ Đ1 đã tiến hành canh tác. Tuy nhiên, vì đất vườn Thịnh L2 xa nhà, sản xuất không thuận tiện nên gia đình bà H (cụ Đ1, bà H, ông C) và vợ chồng ông T6 bà C1 đã thống nhất đổi đất cho nhau, cụ thể: gia đình ông C đổi thửa số 59, tờ bản đồ số 06 (bản đồ 299) cho vợ chồng ông T6 để lấy thửa đất số 727, tờ bản đồ số 01 (bản đồ 299) diện tích 533m² của vợ chồng ông T6 bà C1.
Ngày 26/3/1996, ông T6 và bà H đã lập “Giấy chuyển nhượng đổi vườn” đồng thời xin xác nhận của xóm trưởng là ông Lê Hồng Y (nay đã chết), được Ủy ban nhân dân xã N xác nhận và được cán bộ địa chính ghi vào trong Sổ Địa chính để theo dõi. Hai thửa đất được đổi ngang, nguyên thửa và không đền bù.
Sau khi đổi đất cho đến nay, gia đình ông C, bà H trực tiếp sử dụng thửa đất số 727 (nay là thửa số 05, tờ bản đồ số 19) vào sản xuất, trồng cây lâu năm (bạch đàn, mít ...), xây 01 nhà nhỏ diện tích 18,15m² và nộp các loại thuế phí theo quy định của nhà nước.
Vợ chồng ông T6 bà C1 trực tiếp sử dụng thửa đất số 59 (nay là thửa số 128, tờ bản đồ số 02), sau đó giao thửa đất này cho gia đình ông T9 bà T (vợ chồng anh trai ông T6) sử dụng làm nhà ở.
[2.2] Xét giao dịch chuyển đổi quyền sử dụng đất.
[2.2.1] Về nội dung của giao dịch: Giấy chuyển nhượng đổi vườn lập ngày 26/3/1996 có nội dung: “Họ tên ông bà có vườn Thịnh Lạc Nguyễn Văn T6 diện tích 504m², thuế 24,8kg/sào. Họ tên ông bà có vườn xóm làng Phan Thị H. Diện tích 504m². Để thuận tiện trong việc sản xuất lâu dài về mảnh vườn mà chúng tôi có quyền sử dụng. Xét thấy, thuận tiện cho cả hai bên. Chúng tôi thỏa thuận đổi vườn, được sự đồng ý của cả hai bên, nên chúng tôi làm giấy này để làm bằng chứng bàn giao vườn cho nhau, chữ ký của hai hộ có vườn Nguyễn Văn T6, Phan Thị H. Chứng nhận của đội: đúng thực tế như trong đơn: ký tên Lê Hồng Y, chứng nhận của Ủy ban nhân dân xã: đồng ý cho hai gia đình đổi vườn ở trên theo thỏa thuận của hai gia đình. TL. Chủ tịch UBND xã V”.
[2.2.2] Về hình thức của giao dịch: Giấy chuyển nhượng đổi vườn lập ngày 26/3/1996 giữa ông T6, bà H có chữ ký của ông Nguyễn Văn T6, bà Phan Thị H, chứng nhận của đội và xác nhận của Ủy ban nhân dân xã N.
[2.2.3] Về việc thực hiện giao dịch chuyển đổi quyền sử dụng đất: Bà C1 và ông C, bà H đều xác nhận hai bên đã thực hiện việc đổi đất cho nhau từ năm 1996. Gia đình ông C, bà H sử dụng đất trồng cây cối, hoa màu, năm 2020 thì xây 01 căn nhà có diện tích 18,15m². Gia đình bà C1 sử dụng từ năm 2014 đến năm 1998 thì cho gia đình bà T, ông T9 (ông T9 là em của ông T6 – chồng bà C1) sử dụng cho đến nay. Các đương sự thống nhất việc đổi đất là đổi ngang, nguyên thửa và không có đền bù.
Căn cứ nội dung, hình thức Giấy chuyển nhượng đổi vườn lập ngày 26/3/1996 giữa ông T6, bà H, thực tế sử dụng các thửa đất nêu trên từ năm 1996 cho đến nay của gia đình bà H và gia đình ông T6 cho thấy: Hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất theo Giấy chuyển nhượng đổi vườn giữa ông Nguyễn Văn T6 với bà Phan Thị H là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, đạo đức xã hội, có xác nhận của chính quyền địa phương. Các bên đã thực hiện việc chuyển giao đất cho nhau, đã sử dụng từ thời điểm chuyển đổi cho đến nay, đã được ghi vào Sổ địa chính. Mặc dù bà C1 không ký tên trong giấy chuyển nhượng đổi vườn lập ngày 26/3/1996, nhưng sau khi thực hiện việc chuyển đổi, gia đình bà H đã sử dụng thửa đất 128, tờ bản đồ số 02, bà C1 không có ý kiến gì phản đối hoặc khiếu nại đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền, còn gia đình bà C1 ông T6 đã sử dụng thửa đất 05, tờ bản đồ số 19 sau đó đã cho gia đình ông T9 bà T mượn ở. Vì vậy, có cơ sở xác định bà C1 biết và đồng ý với việc chuyển đổi đất vườn của ông T6. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn bà C1 còn thừa nhận giữa gia đình bà C1 và gia đình bà H có trao đổi với nhau bằng miệng về việc làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với nội dung: thửa đất trước đây của ai thì người đó làm các thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ đổi lại cho nhau.
Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ các Điều 455, 456 của Bộ luật dân sự xác định ông Lê Văn C, bà Phan Thị H yêu cầu công nhận giao dịch chuyển đổi quyền sử dụng đất giữa bà Phan Thị H với gia đình bà Hồ Thị C1, ông Nguyễn Văn T6 có căn cứ cần chấp nhận. Đồng thời, không chấp nhận yêu cầu của bà Hồ Thị C1 về việc tuyên bố giao dịch chuyển đổi quyền sử dụng đất giữa gia đình bà Phan Thị H với gia đình ông Nguyễn Văn T6, bà Phan Thị C3 vô hiệu là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2.3] Xét các giao dịch tại thửa đất số 128, tờ bản đồ số 02 theo yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị T và yêu cầu phản tố của bà Hồ Thị C1:
[2.3.1] Về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà T, ông T9 và ông T6, bà C1 thửa đất số 128, tờ bản đồ số 02:
Quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm phía người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà T (bà T, chị H3, chị T2, chị H4, ông K1, ông T10, bà L1, bà H2, bà N3, bà S, ông C2) cho rằng việc ông T9 bà T sử dụng thửa đất số 128, tờ bản đồ số 02 là trên cơ sở nhận chuyển nhượng từ ông T6 và bà C1 trước năm 2000, tuy nhiên phía bị đơn (bà C1, anh H1, anh Q1, anh V) không thừa nhận mà cho rằng đó là giao dịch cho mượn đất ở nhờ. Phía bà T không đưa ra được chứng cứ về việc đã trả số tiền chuyển nhượng 500.000 đồng và bàn giao thửa đất ao đầu làng cho ông T6 bà C1 hay bất kỳ một căn cứ nào khác để xác thực về sự kiện chuyển nhượng đất. Mặc dù, đã sử dụng, quản lý thửa đất nêu trên từ năm 1999 đến 2021, nhưng chưa bao giờ gia đình bà T đề nghị phía gia đình bà C1 hoàn thiện hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất hay liên hệ với chính quyền địa phương để làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định. Do đó, dù sử dụng công khai, liên tục thửa đất số 128 nhưng bà T không thực hiện đầy đủ các quyền của chủ sử dụng đất nên không có cơ sở để xác định vợ chồng ông T6 bà C1 đã chuyển nhượng đất từ năm 1998-1999 cho gia đình bà T. Gia đình bà T sử dụng thửa 128 cũng không thuộc trường hợp lấn, chiếm. Do đó, xác định việc gia đình bà T sử dụng đất là thông qua việc vợ chồng bà C1 cho mượn đất không xác định thời hạn để ở nhờ.
[2.3.2] Về việc sử dụng, quản lý thửa đất số 128, tờ bản đồ số 02:
Quá trình sử dụng thửa đất số 128 từ năm 1999 đến năm 2021 (thời điểm bắt đầu phát sinh tranh chấp), vợ chồng bà T đã 02 lần xây dựng nhà (năm 1999 và năm 2015-2016). Hiện nay, trên thửa đất có 01 ngôi nhà tình nghĩa (là tài sản riêng của bà T); các chị H3, H4, T2 đã đi lấy chồng, sinh sống tại địa phương khác, chỉ còn bà T sử dụng, quản lý thửa đất số 128, tờ bản đồ số 02.
[2.3.3] Xét công sức quản lý, làm tăng giá trị của thửa đất:
Sau khi được ông T6, bà C1 cho mượn đất, gia đình bà T đã sử dụng đất từ năm 1999 đến nay, 02 lần xây dựng nhà cửa. Ban đầu, thửa đất số 128 được các đương sự xác định là đất sản xuất nông nghiệp nhưng do sử dụng ổn định liên tục lâu dài vào mục đích đất ở nên được Ủy ban nhân dân xã N xác định là đất ở nông thôn. Khi cho gia đình bà T mượn đất, bà C1 ông T6 cũng được hưởng lợi từ việc khai thác công dụng thửa đất ao của ông T9 đào vào nuôi cá. Còn ông T9 thực tế mới sử dụng đất được thời gian rất ngắn, chưa có đóng góp gì cho đất. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định, bà T và các chị H3, T2, H4 là người có đóng góp công sức trong việc bảo quản, nâng cao giá trị tài sản nên cần phải trích công sức bằng đất khoảng 220,1m² tại khu vực có khuôn viên nhà ở thuộc sở hữu của bà T là phù hợp. Do các chị H3, T2, H4 đều đã thống nhất giao toàn bộ quyền lợi, nghĩa vụ tại thửa đất số 128 cho mẹ nên cần chấp nhận để giao bà T được hưởng toàn bộ phần đất trích công sức đồng thời buộc bà T có nghĩa vụ trả cho bà C1, anh V, anh Q1, anh H1 phần đất còn lại (gồm cả phần vợ chồng bà C1 đã xây dựng móng nhà) theo quy định.
Từ các phân tích nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị T về việc công nhận giao dịch chuyển nhượng thửa đất số 128, tờ bản đồ số 02; xác định việc gia đình bà T sử dụng đất là thông qua việc vợ chồng bà C1 cho mượn đất không xác định thời hạn để ở nhờ như trình bày của bà C1, chấp nhận yêu cầu phản tố của bà C1, tuyên chấm dứt hợp đồng cho mượn quyền sử dụng đất giữa ông T6, bà C1 và ông T9, bà T; buộc bà T phải trả lại thửa đất số 128, tờ bản đồ số 02 nêu trên cho bà C1, anh H1, anh V, anh Q1; trích công sức bằng hiện vật là 220,1m² đất tại khu vực có khuôn viên là nhà ở thuộc sở hữu của bà T là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn kháng cáo nhưng không xuất trình thêm được tài liệu, chứng cứ mới chứng minh cho nội dung kháng cáo của mình. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Hồ Thị C1.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm tuyên “Ông Lê Văn C và bà Phan Thị H có nghĩa vụ thực hiện việc tách 10,1m² về phía Nam của thửa đất số 05 cho anh Lê Văn H5 và chị Nguyễn Kiều T3 sử dụng và hợp vào thửa đất số 121, tờ bản đồ số 19 tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An” là chưa chính xác, cần sửa lại cách tuyên như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa là phù hợp.
[3] Án phí: Kháng cáo của bà Hồ Thị C1 không được chấp nhận, bà C1 phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Hồ Thị C1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Căn cứ vào các Điều 1, 2, 3, 15 của Pháp lệnh về Hợp đồng dân sự năm 1991 số 52-LCT/HĐNN8 của Hội đồng nhà nước; các Điều 31, 33, 74 Luật Đất đai 1993; Điều 166 của Luật Đất đai 2013; các Điều 515, 517, 520 của Bộ luật Dân sự 1995; các Điều 496; 499 của Bộ luật Dân sự 2015; Điều 12, Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:
2.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: công nhận giao dịch chuyển đổi quyền sử dụng thửa đất vườn Thịnh Lạc số 59, tờ bản đồ số 06 (nay là thửa số 128, tờ bản đồ số 02 diện tích 480,7m²) với thửa đất “vườn Cát” số 727, tờ bản đồ số 01 (nay là thửa số 05, tờ bản đồ số 19 diện tích 637,7m²) tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An giữa các bên chuyển đổi là cụ Nguyễn Thị Đ (cụ D2, Lê Thị Đ1) - ông Lê Văn C - bà Phan Thị H với ông Nguyễn Văn T6 – bà Hồ Thị C1 theo Giấy chuyển nhượng đổi vườn lập ngày 26/3/1996.
- Trên cơ sở Hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất, công nhận và tạm giao cho ông Lê Văn C và bà Phan Thị H quyền sử dụng đối với 627,6m² đất tại thửa đất số 05, tờ bản đồ số 19, tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An trong thời gian chờ thực hiện các thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Phần đất được định vị như sau: Phía Bắc giáp đường kích thước 13,94m+6,69m+7,25m; Phía Nam giáp phần đất tách cho anh H5 chị T3 kích thước 7,7m+14,47m+3,54m+2,05m; Phía Đông giáp thửa đất số 04 kích thước 13,33m+6,43m; giáp thửa 03 kích thước 0,04m; Phía Tây giáp đường kích thước 4,39m+22,24m.
- Ghi nhận sự tự nguyện của ông Lê Văn C và bà Phan Thị H về việc tách 10,1m² về phía Nam của thửa đất số 05 cho anh Lê Văn H5 và chị Nguyễn Kiều T3 sử dụng và hợp vào thửa đất số 121, tờ bản đồ số 19 tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Anh H5 và chị T3 có nghĩa vụ phối hợp với ông C bà H thực hiện thủ tục tách – hợp 10,1m² đất nêu trên theo quy định của pháp luật. Phần đất tách ra được định vị: Phía Bắc giáp phần đất còn lại của thửa số 05 kích thước 7,7m+14,47m+3,54m+2,05m; Phía Nam giáp thửa đất số 221 kích thước 27,94m; Phía Đông giáp thửa đất số 03 kích thước 0,38m; Phía Tây giáp đường kích thước 0,54m.
Sơ đồ đất tại thửa 05 thể hiện như sau:
2.2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Hồ Thị C1 về việc tuyên giao dịch chuyển đổi thửa đất Vườn Thịnh lạc số 59, tờ bản đồ số 06 (nay là thửa số 128, tờ bản đồ số 02 diện tích 480,7m²) với thửa đất “Vườn cát” số 727, tờ bản đồ số 01 (nay là thửa số 05, tờ bản đồ số 19 diện tích 637,7m²) tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An là vô hiệu.
2.3. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị T về việc công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 128, tờ bản đồ số 02 tại xóm T xã N.
2.4. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Hồ Thị C1 về việc chấm dứt giao dịch mượn quyền sử dụng thửa đất số 59, tờ bản đồ số 06 (nay là thửa đất số 128, tờ bản đồ số 02) tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An giữa ông Nguyễn Văn T6 – bà Hồ Thị C1 với ông Nguyễn Văn T9 – bà Nguyễn Thị T.
- Trích công sức bảo quản, giữ gìn và nâng cao trị giá tài sản cho bà Nguyễn Thị T 220,1m² đất tại thửa 128 và tạm giao cho bà T sử dụng trong thời gian chờ thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định. Phần đất tạm giao được ký hiệu trên sơ đồ là S2 và được định vị như sau: Phía Đông giáp đường kích thước 16,47m; Phía Tây giáp phần đất trả lại cho bà C1, anh V, anh H1, anh Q1 kích thước 14,7m; Phía Nam giáp đường kích thước 15,05m; Phía Bắc giáp giáp phần đất trả lại cho bà C1, anh V, anh H1, anh Q1 kích thước 15,05m.
- Buộc bà Nguyễn Thị T phải trả lại cho bà Hồ Thị C1, anh Nguyễn Văn V, anh Nguyễn Văn Q1, anh Nguyễn Văn H1 260,6m² đất thuộc thửa 128, tờ bản đồ số 02 tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Tạm giao cho bà C1, anh V, anh Q1, anh H1 sử dụng 260,6m² đất trong thời gian chờ thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định. Phần đất tạm giao được ký hiệu trên sơ đồ là S1 và được định vị như sau: Phía Đông giáp đường kích thước 4,2m; giáp phần đất trích cho bà T kích thước 15,05m+14,7m; Phía Tây giáp thửa đất số 130 kích thước 18,71m; Phía Nam giáp đường kích thước 10,91m; Phía Bắc giáp thửa 117 kích thước 25,63m;
Sơ đồ đất tại thửa 128 thể hiện như sau:
- Về án phí:
3.1. Án phí dân sự sơ thẩm:
Trả lại cho bà Phan Thị H 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0002234 do Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghi Lộc phát hành ngày 21/3/2023.
Buộc bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng đối với yêu cầu độc lập không được chấp nhận nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0002273 do Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghi Lộc phát hành ngày 23/5/2023.
Buộc bà Hồ Thị C1 phải chịu 300.000 đồng (đối với yêu cầu phản tố đối với yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0002270 do Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghi Lộc phát hành ngày 22/5/2023.
Trả lại cho bà Hồ Thị C1 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí (yêu cầu phản tố đối với yêu cầu độc lập) theo Biên lai thu số 0002327 do Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghi Lộc phát hành ngày 11/7/2023.
3.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà C1 phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ 300.000đ tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp tại Biên lai số 0002423 ngày 12/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghi Lộc.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thị Thúy Ngọc |
Bản án số 55/2024/DS-PT ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về yêu cầu công nhận giao dịch chuyển đổi quyền sử dụng đất; tuyên bố giao dịch chuyển đổi quyền sử dụng đất vô hiệu; chấm dứt giao dịch cho mượn đất
- Số bản án: 55/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu công nhận giao dịch chuyển đổi quyền sử dụng đất; tuyên bố giao dịch chuyển đổi quyền sử dụng đất vô hiệu; chấm dứt giao dịch cho mượn đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 07/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp yêu cầu công nhận giao dịch chuyển đổi quyền sử dụng đất Lê Văn C và Hồ Thị C
