Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM

TỈNH NINH THUẬN

Bản án số: 55/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 06 - 8 - 2024
V/v tranh chấp: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,

TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Bình.

2. Bà Bùi Thị Út.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ánh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Mai Lý Lệ H - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 303/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 38/2024/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mộng D - sinh năm 1995 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

2/ Bị đơn: Ông Phan Ngọc Quốc H1 - sinh năm 1990 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Khu phố B, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng, Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Mộng D trình bày:

Bà và ông Phan Ngọc Quốc H1 tự nguyện tìm hiểu, quen biết nhau khoảng hơn 04 năm thì tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới, tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2021; có đăng ký kết hôn tại UBND phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận ngày 05/03/2021.

Sau khi tổ chức đám cưới, vợ chồng chung sống tại gia đình nhà ông H1. Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc nhưng sau đó thì nảy sinh mâu thuẫn; nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung nên thường xuyên cãi vã. Mâu thuẫn trầm trọng từ tháng 02/2022, nguyên nhân là do con bị bệnh, bà nói ông H1 đưa tiền để cho con đi khám bệnh nhưng ông H1 không đưa mà còn chửi bới, đánh đuổi nên bà mang theo con về nhà cha mẹ của bà sinh sống. Sau khi về nhà cha mẹ của bà sinh sống được một thời gian thì bà phát hiện mang thai đứa con thứ 02 nên có nhắn tin điện thoại thông báo với ông H1 nhưng ông H1 không có ý kiến gì; bà sinh con và sinh sống tại nhà cha mẹ của bà đến nay. Từ tháng 02/2022 đến nay, bà và ông H1 không quan tâm đến nhau, ông H1 cũng không hỏi han, chăm sóc các con. Bà không còn tình cảm vợ chồng với ông H1 nữa nên yêu cầu ly hôn.

Bà và ông Phan Ngọc Quốc H1 có 02 con chung là Phan Ngọc Đăng K - sinh ngày 22/5/2021 và Phan Ngọc Đăng K1 - sinh ngày 11/01/2023. Các con hiện sống với bà nên khi ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con; bà không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con.

Khi vợ chồng có mâu thuẫn thì tự trong nhà giải quyết, bà không báo chính quyền địa phương.

Bà làm kế toán, thu nhập mỗi tháng 7.000.000 đồng nên đủ khả năng nuôi con.

Bà và ông Phan Ngọc Quốc H1 không có tài sản chung và nợ chung nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Mộng D đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại “Đơn xin xét xử vắng mặt” ngày 19/7/2024, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Mộng D vẫn giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện và những ý kiến đã khai tại Tòa án.

Bị đơn là ông Phan Ngọc Quốc H1: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án; Tòa án đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông H1 không đến Tòa án làm việc và cũng không có ý kiến phản hồi gì liên quan đến tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp; vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, cụ thể như sau:

Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án.

Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án:

Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật, vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự (Viết tắt là BLTTDS).

Về quan điểm giải quyết nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Mộng D.

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mộng D được ly hôn với ông Phan Ngọc Quốc H1.

Về con chung: Giao 02 con chung là Phan Ngọc Đăng K - sinh ngày 22/5/2021 và Phan Ngọc Đăng K1 - sinh ngày 11/01/2023 cho bà Nguyễn Thị Mộng D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Bà Nguyễn Thị Mộng D không yêu cầu ông Phan Ngọc Quốc H1 cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Thị Mộng D khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con chung với ông Phan Ngọc Quốc H1 có nơi cư trú tại khu phố B, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS, xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận.

[1.2]. Về việc vắng mặt nguyên đơn: Tại “Đơn xin xét xử vắng mặt” ngày 19/7/2024, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Mộng D xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện, những ý kiến đã khai tại Tòa án. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của BLTTDS, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.

[1.3]. Về việc vắng mặt bị đơn: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho bị đơn là ông Phan Ngọc Quốc H1 nhưng ông H1 không đến tham gia tố tụng mặc dù đã được tống đạt, triệu tập hợp lệ. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của BLTTDS; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2]. Về nội dung vụ án:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mộng D và ông Phan Ngọc Quốc H1 chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 12, ngày 05/03/2021. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà D và ông H1 là hợp pháp. Bà D và ông H1 chung sống hạnh phúc chỉ được gần 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn và trở nên trầm trọng, đã không sống chung hơn 02 năm nay. Nguyên nhân mâu thuẫn theo bà D là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung; không cùng chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung. Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông H1 không đến Tòa án để làm việc, điều này chứng tỏ ông H1 thiếu thiện chí và không có mong muốn hàn gắn gia đình.

Theo “Đơn xin xác nhận” ngày 18/6/2024, đại diện Ban Q, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận đã xác nhận: “Bà Nguyễn Thị Mộng D và ông Phan Ngọc Quốc H1 quá trình chung sống có nhiều mâu thuẫn, ông H1 chửi bới, đánh đuổi bà D nên từ tháng 02/2022 đến nay, bà D và 02 con chung về sinh sống với cha mẹ tại thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận”.

Xét thấy: Tình trạng mâu thuẫn giữa bà D và ông H1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Việc bà D yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông H1 là có cơ sở, phù hợp với khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên yêu cầu ly hôn của bà D được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2]. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Mộng D và ông Phan Ngọc Quốc H1 có 02 con chung là Phan Ngọc Đăng K - sinh ngày 22/5/2021 và Phan Ngọc Đăng K1 - sinh ngày 11/01/2023. Xét yêu cầu được nuôi con của bà D, thấy rằng: Cháu K mới được 03 tuổi, cháu K1 mới được hơn 01 tuổi; từ khi vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, hai cháu KK1 do bà D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Đối chiếu với công việc hiện nay của bà D là làm kế toán, mức thu nhập bình quân hàng tháng là 7.000.000 đồng. Như vậy bà D đủ khả năng và điều kiện để trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, đảm bảo được sự phát triển toàn diện của con; phù hợp với khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà D, giao cho bà D là người có quyền và nghĩa vụ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung.

[2.3] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Mộng D không yêu cầu ông Phan Ngọc Quốc H1 thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị Mộng D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; bà Nguyễn Thị Mộng D phải chịu toàn bộ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Mộng D.

  1. Về quan hệ hôn nhân:Nguyễn Thị Mộng D được ly hôn ông Phan Ngọc Quốc H1.
  2. Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị Mộng D là người có quyền và nghĩa vụ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung là Phan Ngọc Đăng K - sinh ngày 22/5/2021 và Phan Ngọc Đăng K1 - sinh ngày 11/01/2023.
  3. Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Phan Ngọc Quốc H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
  4. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

  5. Về án phí:Nguyễn Thị Mộng D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002682 ngày 14/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận. Bà Nguyễn Thị Mộng D đã nộp đủ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì Người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án./.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND Tp. Phan Rang-Tháp Chàm;
  • - Chi cục THADS Tp. Phan Rang-Tháp Chàm;
  • - UBND phường Phước Mỹ, Tp.PR-TC (Số 12, ngày 05/03/2021);
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2024/HNGĐ-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 55/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa bà Nguyễn Thị Mộng D với ông Phan Ngọc Quốc H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger