|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 55/2024/HS-ST Ngày: 06-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Hà.
- - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Ái Thương và bà Đồng Thị Mây.
- - Thư ký phiên toà: Ông Vũ Quang Linh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Vui - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở TAND huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 46/2024/TLST-HS ngày 11/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2024/QĐXXST-HS ngày 22/7/2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Tùng D, sinh năm 1999 tại thành phố L, tỉnh Lào Cai.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: khu dân cư H, phường M, thị xã K, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn L và bà Trần Thị B; có vợ là: Nguyễn Thị Vân A và 2 con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/3/2024 đến nay tại Trại giam Công an tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa.
2. Đỗ Văn T, sinh năm 1993 tại huyện K, tỉnh Hải Dương.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: khu A, thị trấn P, huyện K, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh;
giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đỗ Quang N và bà Nguyễn Thị N1; có vợ là: Dương Thu P và 2 con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/3/2024 đến nay tại Trại giam Công an tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Công ty Cổ phần dịch vụ giao hàng nhanh.
Địa chỉ: số D đường X, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lương Duy H - Tổng giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Tuấn C, sinh năm 1996.
Trú tại: số A phố B, phường H, thành phố H, tỉnh Hải Dương. (Có mặt tại phiên tòa)
- Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị Vân A, ông Đỗ Quang N. (Có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Tùng D và Đỗ Văn T đều là nhân viên hợp đồng của Công ty cổ phần D1, trụ sở chính tại 4 X, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh (gọi tắt là Công ty) và làm việc tại Bưu cục K - Chi nhánh H2, địa chỉ tại số H, đường T, T, huyện K, tỉnh Hải Dương (gọi tắt là Bưu cục). D đã ký phụ lục hợp đồng, kèm theo Hợp đồng lao động xác định thời hạn số 2038456 ngày 01/01/2021 với Công ty (thời hạn từ ngày 01/01/2021 đến 31/12/2021). T đã ký phụ lục hợp đồng, kèm theo Hợp đồng dịch vụ số 2043493 ngày 02/12/2020 với Công ty (thời hạn từ ngày 03/12/2020 đến 31/12/2021). Vị trí công việc của D và T là Nhân viên phát triển thị trường (còn gọi là Nhân viên giao hàng). Ngày 16/3/2021, D được Công ty bổ nhiệm vị trí Nhân viên xử lý. Theo nội quy lao động, quy trình làm việc do Công ty ban hành đối với vị trí Nhân viên phát triển thị trường, Nhân viên xử lý: T có nhiệm vụ đến Bưu cục nhận hàng hóa từ D, tiếp nhận thông tin chuyến đi trên hệ thống mạng nội bộ của Công ty, đem theo hàng kèm theo đơn hàng giao cho khách theo địa chỉ ghi trên đơn hàng và nhận tiền thu hộ (tiền COD), tiền cước từ khách hàng (nếu có). Trước 21 giờ cùng ngày, T phải bàn giao toàn bộ số tiền đã thu của khách hàng cho D đúng với tổng số tiền hiển thị trên hệ thống nội bộ của Công ty. D có nhiệm vụ kiểm đếm số tiền đã nhận so với phiếu thu trên hệ thống, đồng thời căn cứ vào báo cáo yêu cầu nộp tiền từ kế toán, D sẽ xác nhận số tiền phải nộp và thực hiện nộp tiền vào
tài khoản Công ty theo đúng quy định, chậm nhất là trước 10 giờ hằng ngày, D phải nộp toàn bộ số tiền đã thu được về Công ty theo quy định.
Ngày 18/10/2021, T đã nhận 26 đơn hàng, giao thành công và thu tiền COD với tổng số tiền là 6.541.101 đồng. Ngày 19/10/2021, T đã nhận 72 đơn hàng, giao thành công và thu tiền COD với tổng số tiền là 26.374.315 đồng. Tổng số tiền đã thu của khách hàng trong 02 ngày nêu trên là 32.915.416 đồng. Nhưng T không mang số tiền trên nộp về cho D mà tiêu xài cá nhân hết. Chiều ngày 19/10/2021, tại Bưu cục, D đưa cho T 123.000.000 đồng (là tiền do các Nhân viên giao hàng khác bàn giao cho D) và nhờ T đem ra ngân hàng để nộp vào tài khoản của Công ty. Sau khi nhận số tiền trên từ D, T nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền này nên đã không nộp tiền vào tài khoản của Công ty mà tự ý bỏ việc, bỏ trốn khỏi địa phương, tắt điện thoại và tiêu xài cá nhân hết. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, D nhận được thông báo của Công ty về việc chưa nhận được tiền nên có gọi điện cho T nhưng không liên lạc được. D đã thông báo cho anh Nguyễn Tuấn C là Nhân viên quản lý khu vực Hải Dương của Công ty. D và anh C đến nhà T thì được gia đình T cung cấp T đã bỏ đi, không biết đi đâu, làm gì.
Cũng trong các ngày 18 và 19/10/2021, D đã nhận bàn giao tiền COD và tiền cước từ các Nhân viên giao hàng, tổng là 321.049.497 đồng, trong đó: Ngày 18/10/2021 là 61.236.725 đồng; ngày 19/10/2021 là 259.812.772 đồng. Ngày 19/10/2021 D đã đưa cho T 123.000.000 đồng nhờ T nộp vào tài khoản của Công ty. Ngày 20/10/2021, D giao trực tiếp cho anh C 135.000.000 đồng để nộp về Công ty. Còn lại 63.049.497 đồng, D tiêu xài cá nhân hết, không có tiền để nộp lại cho Công ty theo quy định. Công ty đồng ý cho D tiếp tục làm việc để trả lại tiền cho Công ty. Đến ngày 26/11/2021, D nhận được 328.698.591 đồng từ các Nhân viên giao hàng, D đã nộp vào tài khoản của Công ty 142.700.000 đồng, còn lại 185.998.591 đồng chưa nộp. Ngày 27/11/2021, D tự ý bỏ việc. Ngày 28/11/2021, anh C cùng với bà Trần Thị B và chị Nguyễn Thị Vân A (là mẹ đẻ và vợ của D) đến Bưu cục kiểm kê tiền và hàng hóa còn lại, xác định trong két sắt có 102.690.000 đồng. Số tiền ngày 26/11/2021 D đã thu chưa nộp về Công ty theo quy định còn lại là 83.308.591 đồng, số tiền này D đã tiêu xài cá nhân hết. Sau nhiều lần yêu cầu D nộp tiền trả Công ty nhưng D không thực hiện, ngày 23/5/2023, Công ty đã làm đơn tố giác hành vi phạm tội của D đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K.
Ngày 01/11/2021, ông Đỗ Quang N là bố đẻ của bị cáo T đã bồi thường cho Công ty 123.000.000 đồng do T chiếm đoạt của Công ty. Ngày 30/12/2021, T bồi thường cho Công ty số tiền COD đã chiếm đoạt vào các ngày 18 và
19/10/2021 là 32.915.416 đồng. Ngày 03/8/2023, D bồi thường tổng số tiền đã chiếm đoạt của Công ty vào các ngày 18, 19/10/2021 và 26/11/2021 là 146.358.088 đồng. Đại diện theo ủy quyền của Công ty không yêu cầu D và T phải bồi thường thêm số tiền nào khác và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Tại Cáo trạng số: 45/CT-VKS ngày 10/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân (viết tắt là VKSND) huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Nguyễn Tùng D về tội “Tham ô tài sản” theo điểm c, d khoản 2 Điều 353 của Bộ luật Hình sự, truy tố bị cáo Đỗ Văn T về tội “Tham ô tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 353 của Bộ luật Hình sự và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 175 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: các bị cáo khai nhận về hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố và đề nghị cho các bị cáo hưởng mức án thấp nhất để các bị cáo sớm có cơ hội trở về với gia đình.
Bị hại xác định đã nhận lại đủ tài sản, không yêu cầu bồi thường gì và đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện VKSND huyện Kim Thành giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tùng D phạm tội “Tham ô tài sản”, bị cáo Đỗ Văn T phạm tội “Tham ô tài sản và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”
Áp dụng các điểm c, d khoản 2 Điều 353, Điều 38, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tùng D từ 8 năm 6 tháng tù đến 9 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/3/2024.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 353, điểm c khoản 2 Điều 175, Điều 38, các điểm b, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 55 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Đỗ Văn T từ 7 năm đến 7 năm 6 tháng tù về tội Tham ô tài sản, từ 3 năm đến 3 năm 6 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo chấp hành chung hình phạt cho cả 2 tội là từ 10 năm tù đến 11 năm đến tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/3/2024.
Về hình phạt bổ sung: đề nghị không áp dụng.
Về trách nhiệm dân sự: không đặt ra giải quyết.
Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH
14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, VKSND huyện Kim Thành, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của các bị cáo Nguyễn Tùng D và Đỗ Văn T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của đại diện bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Tùng D là Nhân viên xử lý và Đỗ Văn T là Nhân viên phát triển thị trường (Nhân viên giao hàng) thuộc Bưu cục K, địa chỉ tại đường T, T, huyện K, tỉnh Hải Dương của Công ty cổ phần D1. Nhiệm vụ của D là thu tiền COD, tiền cước từ các Nhân viên giao hàng và nộp vào tài khoản của Công ty trước 10 giờ hàng ngày. Nhiệm vụ của T là giao, nhận hàng hoá và thu tiền COD, tiền cước (nếu có) từ khách hàng và bàn giao lại cho D trước 21 giờ hàng ngày. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao, trong các ngày 18, 19/10/2021 và ngày 26/11/2021, D đã chiếm đoạt số tiền thuộc quyền quản lý, không nộp cho Công ty theo quy định, tổng là 146.358.088 đồng; trong các ngày 18 và 19/10/2021, T đã chiếm đoạt số tiền COD đã thu của khách hàng, không nộp về Bưu cục theo quy định, tổng là 32.915.416 đồng (số tiền mà D và T chiếm đoạt, mỗi ngày đều trên 2.000.000 đồng). Chiều ngày 19/10/2021, tại Bưu cục K, sau khi nhận được 123.000.000 đồng của Nguyễn Tùng D nhờ gửi vào tài khoản của Công ty cổ phần D1, Đỗ Văn T đã bỏ trốn để chiếm đoạt số tiền này.
[3] Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi thực hiện là trái pháp luật nhưng vẫn lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý. Các bị cáo đều thực hiện hành vi chiếm đoạt từ 02 lần trở lên, mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành một tội phạm độc lập, trong đó tổng số tiền bị cáo D chiếm đoạt là 146.358.088 đồng, tổng số tiền bị cáo T chiếm đoạt là 32.915.416 đồng. Ngoài ra, bị cáo T còn
chiếm đoạt số tiền 123.000.000 đồng của Nguyễn Tùng D nhờ gửi vào tài khoản của Công ty cổ phần D1. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm đối với xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của doanh nghiệp được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân và ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự trên địa bàn. Vì vậy hành vi trên của bị cáo D đã phạm tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 353 của Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo T đã phạm tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 353 của Bộ luật Hình sự và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 175 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, VKSND huyện Kim Thành truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, đã bồi thường toàn bộ số tiền chiếm đoạt và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, bị cáo T có bố đẻ được tặng H1, Huy chương kháng chiến nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo T bị kết án theo khoản 2 Điều 353 của Bộ luật Hình sự nhưng số tiền chiếm đoạt dưới 100.000.000 đồng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Mặc dù các bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nhưng số tiền chiếm đoạt của các bị cáo lớn nên hành vi phạm tội của các bị cáo phải bị xử lý nghiêm và cần thiết cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung. Bị cáo T có ba tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên cần áp dụng cho bị cáo hình phạt dưới mức thấp nhất của khoản 2 Điều 353 của Bộ luật Hình sự. Ngòa ra, bị cáo T bị xét xử về hai tội nên cần áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt.
[6] Về hình phạt bổ sung: các bị cáo là nhân viên ký hợp đồng với doanh nghiệp như một lao động phổ thông, không phải là đối tượng có chức vụ, quyền hạn nằm trong nhóm có nguy cơ tham nhũng cao, không có tài sản riêng nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền hay cấm đảm nhiệm chức vụ đối với bị cáo như đề nghị của đại diện của VKS tại phiên tòa.
[7] Về trách nhiệm dân sự: số tiền mà bị cáo chiếm đoạt đã được thu giữ và trả lại cho bị hại. Đại diện bị hại không có yêu cầu bồi thường gì khác nên không đặt ra xem xét.
[8] Về án phí: các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 353 và Điều 175 của Bộ luật hình sự;
1. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Tùng D phạm tội “Tham ô tài sản”. Bị cáo Đỗ Văn T phạm tội “Tham ô tài sản” và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
2. Áp dụng các điểm c, d khoản 2 Điều 353, Điều 38, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tùng D 7 (bẩy) năm 3 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/3/2024.
3. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 353, điểm c khoản 2 Điều 175, Điều 38, các điểm b, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, điểm a khoản 1 Điều 55 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Đỗ Văn T 6 (sáu) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Tham ô tài sản” và 3 (ba) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt của cả hai tội, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 9 (chín) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/3/2024.
4. Về hình phạt bổ sung: không áp dụng đối với các bị cáo.
5. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Các bị cáo Nguyễn Tùng D và Đỗ Văn T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Hà |
Bản án số 55/2024/HS-ST ngày 06/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự sơ thẩm về tội tham ô tài sản và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 55/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tham ô tài sản và Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tùng D là Nhân viên xử lý và Đỗ Văn Th là Nhân viên phát triển thị trường (Nhân viên giao hàng) thuộc Bưu cục Kim Thành, địa chỉ tại đường T, thị trấn P, huyện K, tỉnh Hải Dương của Công ty cổ phần dịch vụ giao hàng nhanh. Nhiệm vụ của D là thu tiền COD, tiền cước từ các Nhân viên giao hàng và nộp vào tài khoản của Công ty trước 10 giờ hàng ngày. Nhiệm vụ của Th là giao, nhận hàng hoá và thu tiền COD, tiền cước (nếu có) từ khách hàng và bàn giao lại cho D trước 21 giờ hàng ngày. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao, trong các ngày 18, 19/10/2021 và ngày 26/11/2021, D đã chiếm đoạt số tiền thuộc quyền quản lý, không nộp cho Công ty theo quy định, tổng là 146.358.088 đồng; trong các ngày 18 và 19/10/2021, Th đã chiếm đoạt số tiền COD đã thu của khách hàng, không nộp về Bưu cục theo quy định, tổng là 32.915.416 đồng (số tiền mà D và Th chiếm đoạt, mỗi ngày đều trên 2.000.000 đồng). Chiều ngày 19/10/2021, tại Bưu cục Kim Thành, sau khi nhận được 123.000.000 đồng của Nguyễn Tùng D nhờ gửi vào tài khoản của Công ty cổ phần dịch vụ giao hàng nhanh, Đỗ Văn Th đã bỏ trốn để chiếm đoạt số tiền này.
