Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TAN CHÂU

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 55/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 05/7/2024

V/v tranh chấp hôn nhân và gia

đình, ly hôn, nuôi con chung.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH ANGIANG.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thế Minh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hồ Văn Ức;
  2. Ông Phạm Thế Phương.

- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Mộng Thu - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Huy Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 98/2024/TLST-HNGĐ ngày 25/3/2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thúy E, sinh năm 1991; địa chỉ cư trú: Số B, ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang; (có mặt)
  • - Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1984; địa chỉ cư trú: Tổ I, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 22/3/2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị Thúy E bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Giữa tôi với anh Nguyễn Thanh T tự tìm hiểu, được cha mẹ hai bên đồng ý, chúng tôi tổ chức lễ cưới vào năm 2011. Chúng tôi có đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban Nhân dân phường L, thị xã T, tỉnh An Giang và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 02/2012, ngày 04/01/2012.

Thời gian đầu vợ chồng sống chung có hạnh phúc nhưng kéo dài đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không phù hợp, sống không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Tôi và anh T không còn sống chung 02 năm nay, kể từ tháng 02 năm 2021 đến nay.

Nhận thấy tôi và anh T sống chung không phù hợp, vợ chồng không còn thương yêu quan tâm đến nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt. Yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn anh Nguyễn Thanh T.

- Về nuôi con chung: Tôi với anh Nguyễn Thanh T có 03 đứa con chung tên Nguyễn Huỳnh N, sinh ngày 20/10/2012, Nguyễn Như Ý, sinh ngày 15/9/2014 và Nguyễn Thanh K, sinh ngày 23/9/2016. Hiện 03 cháu Huỳnh N, Thanh K, Như Ý đang sống với anh T, khi ly hôn chị Thúy E đồng ý giao cả 03 cháu cho anh T nuôi dưỡng, chị Thúy E tự nguyện cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng/3 đứa con.

- Về quan hệ tài sản và nợ chung: Trong thời kỳ hôn nhân tôi với anh Thanh T không có tài sản và nợ chung. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Nguyễn Thanh T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Giữa tôi với cô Thúy E tự tìm hiểu, được cha mẹ hai bên đồng ý, chúng tôi tổ chức lễ cưới vào năm 2011. Chúng tôi có đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban Nhân dân phường L, thị xã T, tỉnh An Giang và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 02/2012, ngày 04/01/2012.

Thời gian đầu vợ chồng sống chung có hạnh phúc nhưng kéo dài đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Vào tháng 5/2022 thì cô T1 em bỏ đi cho đến nay.

Nhận thấy tôi và cô Thúy E tình cảm vẫn còn và vì 03 đứa con. Yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được đoàn tụ với cô Thúy E.

Tại phiên tòa hôm nay anh T thống nhất lý hôn với chị Thúy E.

- Về nuôi con chung: Tôi với cô Thúy E có 03 đứa con chung tên Nguyễn Huỳnh N, sinh ngày 20/10/2012, Nguyễn Như Ý, sinh ngày 15/9/2014 và Nguyễn Thanh K, sinh ngày 23/9/2016. Hiện 03 cháu Huỳnh N, T, Như Ý đang sống với tôi, khi ly hôn tôi yêu cầu nuôi cả 03 đứa con, yêu cầu cô Thúy E cấp dưỡng nuôi con 1.500.000 cho con (1.500.000 đồng cho 03 đứa con).

- Về quan hệ tài sản và nợ chung: Trong thời kỳ hôn nhân tôi với cô Nguyễn Thị Thúy E không có tài sản và nợ chung. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Biên bản xác minh ngày 17/6/2024 của Văn phòng K1, phường L cung cấp về tình trạng hôn nhân của chị Lê Thị Thúy E1 và anh Nguyễn Thanh T thể hiện: Hôn nhân của chị Lê Thị Thúy E1 và anh Nguyễn Thanh T mâu thuẫn tình cảm thế nào thì địa phương không nắm rõ. Chị Thúy E1 đã bỏ nhà đi và về gia đình cha, mẹ ruột chị Thúy E1 tại xã P, huyện P, tỉnh An Giang từ 02 năm nay.

Toà án tiến hành lập biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản hòa giải nhưng không thành.

Hội đồng xét xử công bố biên bản minh ngày 17/6/2024 của Văn phòng khóm L, phường L.

Tại phiên tòa, chị Thúy E1 và anh T giữ nguyên yêu cầu.

Chị Thúy E1 và anh T xác định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho Tòa án, không còn cung cấp thêm chứng cứ nào khác.

- Ý kiến của Kiểm sát viên:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký trong thời gian chuẩn bị xét xử. Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thực hiện đúng, đầy đủ quy định Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Việc tuân thủ pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tại phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định của pháp luật.

Ý kiến về giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị Thúy E với anh Nguyễn Thanh T có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, năm 2021 giữa chị T1 với anh T có phát sinh mâu thuẫn. Tại phiên tòa chị Thúy E và anh T thống nhất thuận tình ly hôn. Căn cứ Điều 51, 55 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Thúy E và anh T.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chị Thúy E với anh T có 03 con chung tên Nguyễn Huỳnh N, sinh ngày 20/10/2012, Nguyễn Như Ý, sinh ngày 15/9/2014 và Nguyễn Thanh K, sinh ngày 23/9/2016. Hiện 03 cháu Huỳnh N, Thanh K, Như Ý đang sống với anh T. Đề nghị Hội đồng xét xử giao cả 03 đứa con cho anh T nuôi dưỡng, chị Thúy E cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 cho con (2.000.000 đồng cho 03 đứa con) cho đến khi con trưởng thành.

Về tài sản và nợ chung: Không có, không đặt ra giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1] Thẩm quyền: Chị Nguyễn Thị Thúy E khởi kiện “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” với anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1984; địa chỉ cư trú: Tổ I, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang. Xét, quan hệ tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; nguyên đơn đã nộp tạm ứng án phí và Tòa án thụ lý giải quyết.

Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Thúy E với anh Nguyễn Thanh T có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo hộ.

Về nội dung:

[2] Về quan hệ hôn nhân: Giữa chị Nguyễn Thị Thúy E với anh Nguyễn Thanh T tự tìm hiểu, được cha mẹ hai bên đồng ý, hai người tổ chức lễ cưới vào năm 2011. Hai người có đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban Nhân dân phường L, thị xã T, tỉnh An Giang và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 02/2012, ngày 04/01/2012.

Thời gian đầu vợ chồng sống chung có hạnh phúc nhưng kéo dài đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không phù hợp, sống không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Thúy E và anh T không còn sống chung 02 năm nay, kể từ tháng 02 năm 2021 đến nay.

Theo khoản 2 Điều 17, Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, “Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp,... và lý do chính đáng khác”;

“Vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau”.

Giữa chị Thúy E với anh T đã sống xa cách nhau từ đầu năm 2022 đến nay.

Tại phiên tòa chị Nguyễn Thị Thúy E với anh Nguyễn Thanh T thống nhất thuận tình ly hôn nhau.

Căn cứ Điều 51, 55 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xét, công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Thúy E với anh Nguyễn Thanh T.

[3] Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chị Thúy E với anh T có 03 con chung tên Nguyễn Huỳnh N, sinh ngày 20/10/2012, Nguyễn Như Ý, sinh ngày 15/9/2014 và Nguyễn Thanh K, sinh ngày 23/9/2016. Hiện 03 cháu Huỳnh N, Thanh K, Như Ý đang sống với anh T. Nguyện vọng của các cháu Huỳnh N, Như Ý và Thanh K muốn được sống với anh T.

Xét, giao Nguyễn Huỳnh N, sinh ngày 20/10/2012, Nguyễn Như Ý, sinh ngày 15/9/2014 và Nguyễn Thanh K, sinh ngày 23/9/2016 cho anh T được tiếp tục nuôi dưỡng. Chị Thúy E có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 cho con (2.000.000 đồng cho 03 đứa con) cho đến khi con trưởng thành. Thời gian cấp dưỡng lần dầu là ngày 05/8/2024.

Anh Nguyễn Thanh T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở chị Nguyễn Thị Thúy E trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

Theo quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Thúy E với anh Nguyễn Thanh T thống nhất vợ chồng không có tài sản và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó không đặt ra giải quyết.

[5] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thúy E phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng, chị Thúy E được chuyển từ tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0007882 ngày 22/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu. Chị Nguyễn Thị Thúy E còn phải nộp thêm 300.000 đồng (ba trăm nghìn)

Anh Nguyễn Thanh T không phải chịu tiền án phí hôn nhân.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 51, Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, Điều 35, khoản, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thúy E.

- Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thúy E với anh Nguyễn Thanh T;

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Huỳnh N, sinh ngày 20/10/2012, Nguyễn Như Ý, sinh ngày 15/9/2014 và Nguyễn Thanh K, sinh ngày 23/9/2016 cho anh Nguyễn Thanh T được tiếp tục nuôi dưỡng. Chị Thúy E có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng/03 đứa con (hai triệu) cho đến khi con trưởng thành. Thời gian cấp dưỡng lần đầu là ngày 05/8/2024.

Anh Nguyễn Thanh T cùng thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở chị Thúy E trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thúy E tự nguyện chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ngoài ra, chị Thúy E còn phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con, chị Thúy E được khấu trừ từ tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0007882 ngày 22/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu. Chị Nguyễn Thị Thúy E phải nộp thêm 300.000 đồng (ba trăm nghìn).

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các đương sự có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Viện KSND TX (2);
  • - Tòa án nhân dân tỉnh (1);
  • - Thi hành án DS TX (1);
  • - Các đương sự;
  • - UBND phường Long Hưng;
  • - Lưu hồ sơ (1),
  • - Lưu văn phòng (1).

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Ngô Thế Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2024/HNGĐ-ST ngày 05/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 55/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: E yêu cầu ly hôn với T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger