|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 55/2024/HS-ST Ngày 05 – 6 – 2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Đức Thịnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đoàn Văn Ngàn;
Bà Mai Thị Hiền
- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Khánh Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 49/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 51/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
PHẠM VĂN Q; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 25 tháng 3 năm 1984 tại thành phố L, tỉnh Lào Cai. Nơi cư trú: Tổ B, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 04/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Phạm Văn L và bà Nguyễn Thị Bích . Bị cáo có vợ là Hoàng Thị T và 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2016. Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Nhân thân: Năm 2003, bị cáo bị Toà án nhân dân thị xã Lào Cai, tỉnh Lào Cai xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, đã được xoá án tích. Hiện đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
Bị hại: Chị Lại Khánh L1
Địa chỉ: Tổ A, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 05/02/2024, bị cáo Phạm Văn Q điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát: 24B1-444.28 đến trụ sở Công ty Cổ phần S (sau đây gọi tắt là Công ty S) tại số B, đường H thuộc tổ I, phường K, thành phố L, tỉnh Lào Cai với mục đích gặp Giám đốc Công ty để đề nghị thanh toán tiền công. Tuy nhiên do không gặp được Giám đốc nên bị cáo đi cầu thang bộ lên các phòng để tìm. Khi lên đến tầng 4, bị cáo đi qua phòng của chị L2 Khánh L1 là nhân viên Công ty, thấy phòng mở cửa và quan sát không có ai trong phòng, bị cáo đi vào lấy số tiền 41.000.000 VNĐ (bốn mươi mốt triệu đồng) tiền Việt Nam, bao gồm nhiều tờ tiền có mệnh giá khác nhau đựng bên trong một túi xách màu đen bên trong tủ quần áo bằng gỗ, màu nâu và số tiền 1.342 CNY (một nghìn ba trăm bốn mươi hai nhân dân tệ) tiền Trung Quốc, gồm nhiều tờ tiền có mệnh giá khác nhau tại ngăn để đồ ở chiếc tủ nhựa đặt ở đầu giường ngủ. Bị cáo cất giấu toàn bộ số tiền trên vào túi quần và rời khỏi Công ty, rồi điều khiển xe mô tô tới khu vực cửa khẩu L3 gặp được một người nữ giới (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) để đổi số tiền 1.342CNY (một nghìn ba trăm bốn mươi hai nhân dân tệ) tiền Trung Quốc sang tiền Việt Nam được số tiền 4.000.000 VNĐ (bốn triệu đồng) tiền Việt Nam với nhiều mệnh giá khác nhau. Sau đó, bị cáo mang toàn bộ số tiền về nhà và dùng số tiền 43.000.000 VNĐ để trả lương công nhân làm thuê gồm: Phạm Văn T1, Phan Hải A và Triệu Chí C. Còn lại số tiền 2.000.000VNĐ (hai triệu đồng) bị cáo dùng để trả tiền mua thực phẩm cho nhóm công nhân.
Ngày 07/02/2024, bị cáo đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L để đầu thú và tự nguyện giao nộp số tiền 45.000.000 đồng.
Tại Kết luận giám định số 11/KL-GĐĐV ngày 15/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Trên các đồ vật tại hiện trường và trên các mẫu gửi giám định thu được 10 (mười) dấu vết đường vân đủ yếu tố giám định, dạng vân đầu ngón tay, ký hiệu dấu vết từ số 01 đến 10. Trong đó: Dấu vết đường vân số 01 thu được trên mặt ngoài cánh cửa ra vào; Dấu vết đường vân số 02, 03 thu được trên mặt ngoài tủ nhựa; Dấu vết đường vân số 04, 05, 06 thu được trên mặt ngoài cánh cửa sắt; Dấu vết đường vân số 07 thu được trên mặt ngoài túi nilon màu xanh; Dấu vết đường vân số 08, 09, 10 thu được trên phong bì giấy.
Tại bản Kết luận giám định số 17/KL-GĐĐV ngày 13/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận:
- - Dấu vết đường vân số 04 thu được theo Kết luận giám định số 11/KL-GĐĐV ngày 15/02/2024 của phòng K, Công an tỉnh L và dấu vết đường vân ngón Giữa trái chỉ bản so sánh ghi họ tên Phạm Văn Q là của cùng một người;
- - Dấu vết đường vân số 05 thu được theo Kết luận giám định số 11/KL-GĐĐV ngày 15/02/2024 của phòng K, Công an tỉnh L và dấu vết đường vân ngón Cái trái chỉ bản so sánh ghi họ tên Phạm Văn Q là của cùng một người;
- - Dấu vết đường vân số 07 thu được theo Kết luận giám định số 11/KL-GĐĐV ngày 15/02/2024 của phòng K, Công an tỉnh L và dấu vết đường vân ngón Nhẫn phải chỉ bản so sánh ghi họ tên Phạm Văn Q là của cùng một người;
- - Dấu vết đường vân số 09 thu được theo Kết luận giám định số 11/KL-GĐĐV ngày 15/02/2024 của phòng K, Công an tỉnh L và dấu vết đường vân ngón Nhẫn phải chỉ bản so sánh ghi họ tên Phạm Văn Q là của cùng một người;
Tại Công văn số 154/CV-LCA ngày 11/3/2024 của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 - Chi nhánh L4 xác định số tiền 1.342CNY (một nghìn ba trăm bốn mươi hai nhân dân tệ) tiền Trung Quốc tại thời điểm ngày 05/02/2024 tương đương với 4.654.056VNĐ (bốn triệu sáu trăm năm mươi tư nghìn không trăm năm mươi sáu đồng) tiền Việt Nam.
Cáo trạng số 49/CT-VKS-TPLC ngày 04/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai truy tố Phạm Văn Q về tội “Trộm cắp tài sản "theo khoản 1 Điều 173của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 2 năm 6 tháng đến 3 năm 6 tháng, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục; Không áp dụng phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Phạm Văn Q khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng truy tố, không tranh luận về tội danh cũng như hình phạt mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
Bị hại là chị Lại Khánh L1 trong quá trình tố tụng cũng như tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 31/5/2024 đã trình bày: Chị đã nhận lại được toàn bộ tài sản, không có ý kiến, đề nghị gì về trách nhiệm dân sự; về trách nhiệm hình sự, chị đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố L, tỉnh Lào Cai; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo Phạm Văn Q tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà. Do vậy có đủ cơ sở để kết luận:
Ngày 05/02/2024, tại phòng của chị Lại Khánh L1 ở trụ sở Công ty Cổ phần S tại số B, đường H thuộc tổ I, phường K, thành phố L, tỉnh Lào Cai, bị cáo Phạm Văn Q đã có hành vi lén lút trộm cắp tổng số tiền 45.654.056 VNÐ của chị Lại Khánh L1 gồm: 41.000.000 VNĐ tiền Việt Nam và 1.324 CNY tiền Trung Quốc (tương đương với 4.654.056VNĐ tiền Việt Nam). Như vậy, đã có đủ căn cứ kết luận hành vi nêu trên của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
“Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo sau khi phạm tội đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại; Thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; Ngày 07/02/2024 bị cáo đã đến cơ quan điều tra để đầu thú, được bị hại xin giảm nhẹ một phần hình phạt. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Về nhân thân: Năm 2003, bị cáo bị Toà án nhân dân thị xã Lào Cai, tỉnh Lào Cai xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại Bản án số 74/2003/HSST ngày 16/9/2003. Tính đến thời điểm phạm tội lần này, bị cáo đã được xóa án tích.
[4] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, có nhận thức và hiểu biết về pháp luật, mặc dù biết được quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố L, vì vậy cần phải có một mức án tương xứng với tính chất, mức độ do bị cáo gây ra. Tuy nhiên bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội do bột phát, mục đích lấy trộm tiền để thanh toán tiền công thợ làm thuê cho mình, bị cáo có nơi cư trú cụ thể rõ ràng để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục. Xét thấy, không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù có thời hạn cũng có khả năng tự cải tạo, giáo dục. Vì vậy việc cho bị cáo hưởng án treo, giao bị cáo cho Ủy ban nhân cấp xã nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng răn đe, phòng ngừa.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản riêng, vì vậy Hội đồng xét xử không phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo đã tự nguyện giao nộp số tiền 45.000.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu đồng) cho cơ quan điều tra. Ngày 07/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã ra Quyết định số 337/QĐ-ĐTTH trả lại số tiền 45.000.000VNĐ (bốn mươi lăm triệu đồng) tiền Việt Nam cho chị Lại Khánh L1. Sau khi nhận lại số tiền trên, chị L2 Khánh L1 không yêu cầu đề nghị gì khác về trách nhiệm dân sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về các vấn đề khác:
Đối với anh Phạm Văn T1, anh Phan Hải A và anh Triệu Chí C quá trình điều tra xác định những người này không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L không đề cập xử lý là phù hợp.
[8] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn Q 1 năm 3 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm 06 tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp Phạm Văn Q thay đổi nơi cư trú, nơi làm việc thì thực hiện quy định theo Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Phạm Văn Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Đức Thịnh |
Bản án số 55/2024/HS-ST ngày 05/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 55/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn Q phạm tội "Trộm cắp tài sản"
