Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HUẾ

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 55/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 04/7/2024

“V/v Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ - TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Trần Thị Thanh Xuân;
  2. Bà Đoàn Thị Thanh Nhàn.

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Thái Vũ, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Trường Thi, Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Huế, số F N, thành phố H xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 359/2023/TLST-HNGĐ ngày 11/5/2023 về việc “Xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 31/5/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Anh Đ, sinh năm 1980.

Địa chỉ: Tổ I (tổ A cũ), phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Trương Văn Đ1, sinh năm 1974.

Địa chỉ: Tổ I (tổ A cũ), phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 28/3/2023, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Thị Anh Đ trình bày:

Chị với anh Trương Văn Đ1 có quá trình tìm hiểu nhau khoảng 01 năm rồi đi đến hôn nhân, trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ hỏi, cưới theo phong tục, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P (nay là phường T), thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế vào ngày 22/5/1999. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà của bố mẹ chồng tại tổ A, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế hòa thuận đến khoảng năm 2011 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Đ1 hay chửi mắng, đánh đập. Năm 2013 chị về nhà bố mẹ để ở cho đến nay, vợ chồng sống ly thân từ năm 2013 cho đến nay. Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị xin ly hôn anh Đ1.

Về con chung: Chị Đ trình bày chị với anh Trương Văn Đ1 có 03 con chung là:

1

Trương Thị Hoàng O, sinh ngày 06/9/1998, Trương Quốc H, sinh ngày 12/6/2001 và Trương Quang D, sinh ngày 05/4/2011. Nay 02 con cháu O và cháu H đã đủ tuổi thành niên nên ở với bố hay mẹ là quyền của 02 con. Riêng cháu Trương Quang D hiện nay do đang ở với anh Đ1, nên chị có ý kiến giao cháu D cho anh Đ1 nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng vì hiện tại đang khó khăn về kinh tế.

Về tài sản chung: Chị Đ trình bày vợ chồng không có tài sản chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị Đ trình bày vợ chồng không có nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Phía bị đơn anh Trương Văn Đ1: Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng, nhưng anh Đ1 không đến Tòa án để làm việc nên không tiến hành lấy lời khai, cũng như tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà, người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn thực hiện đúng quy định của pháp luật. Phía bị đơn không tuân thủ đúng quy định tại Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 5, Điều 28, Điều 147, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Trần Thị Anh Đ.

- Về con chung: Đề nghị giao cháu Trương Quang D, sinh ngày 05/4/2011 cho anh Trương Văn Đ1 nuôi dưỡng, chị Đ không cấp dưỡng tiền nuôi cháu D.

- Về tài sản chung: Chị Đ trình bày không có, nên đề nghị không xem xét.

- Về nợ chung: Chị Đ trình bày không có, nên đề nghị không xem xét.

- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trần Thị Anh Đ phải chịu theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ phiên tòa lần thứ hai, nhưng bị đơn anh Trương Văn Đ1 vắng mặt, nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt anh Trương Văn Đ1 theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Anh Đ với anh Trương Văn Đ1 có quá trình tìm hiểu nhau khoảng 01 năm rồi đi đến hôn nhân, trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ hỏi, cưới theo phong tục, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P (nay là phường T), thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế vào ngày 22/5/1999. Sau khi kết hôn, theo chị Đ trình bày vợ chồng chung sống tại nhà của bố mẹ chồng tại tổ A, phường T, thành phố H, vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2011 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Đ1 hay chửi mắng, đánh đập. Năm 2013 chị về nhà bố mẹ để ở cho đến nay, vợ chồng sống ly thân từ năm 2013 cho đến nay. Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị xin ly hôn anh Đ1. Xét thấy, từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, chị Đ vẫn một mực xin ly hôn anh Đ1, vợ chồng không chung sống với nhau từ năm 2013 cho đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, mệnh ai người nấy sống, xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận cho chị Trần Thị Anh Đ được ly hôn anh Trương Văn Đ1.

[3] Về con chung: Chị Đ trình bày chị với anh Trương Văn Đ1 có 03 con chung là: Trương Thị Hoàng O, sinh ngày 06/9/1998, Trương Quốc H, sinh ngày 12/6/2001 và Trương Quang D, sinh ngày 05/4/2011. Nay 02 cháu O và cháu H đã đủ tuổi thành niên nên ở với bố hay mẹ là quyền của 02 con. Cháu Trương Quang D hiện nay đang ở với ông Đ1, nên chị có ý kiến giao cho anh Đ1 nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng vì hiện tại đang khó khăn về kinh tế. Xét thấy lâu nay cháu Trương Quang D ở với anh Trương Văn Đ1, nguyện vọng của cháu D muốn ở với anh Đ1, nên giao cháu D cho anh Đ1 nuôi dưỡng cho đến khi cháu D đủ tuổi thành niên là phù hợp. Về cấp dưỡng, chị Đ cho rằng hiện nay chị đang khó khăn về kinh tế, nên không cấp dưỡng cho cháu D được. Tòa án đã triệu tập nhưng anh Đ1 không đến làm việc, nên không lấy lời khai về yêu cầu cấp dưỡng được. Sau này anh Đ1 có yêu cầu về cấp dưỡng thì có quyền kiện bằng vụ án khác.

[5] Về tài sản chung: Chị Đ trình bày không có, không yêu cầu, nên Tòa án không xem xét giải quyết.

[6] Về nợ chung: Chị Đ trình bày không có, không yêu cầu, nên Tòa án không xem xét giải quyết.

[7] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trần Thị Anh Đ phải chịu theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Trần Thị Anh Đ, tuyên xử cho chị Trần Thị Anh Đ được ly hôn anh Trương Văn Đ1.
  2. Về con chung: Giao cháu Trương Quang D, sinh ngày 05/4/2011 cho anh Trương Văn Đ1 nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu Trương Quang D đủ tuổi thành niên (đủ 18 tuổi).

3

Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

  1. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Tòa án không xem xét giải quyết. Sau này anh Trương Văn Đ1 có yêu cầu thì khởi kiện bằng vụ án khác.
  2. Về tài sản chung: Chị Trần Thị Anh Đ trình bày không có, không yêu cầu, nên Tòa án không xem xét giải quyết.
  3. Về nợ chung: Chị Trần Thị Anh Đ trình bày không có, không yêu cầu, nên Tòa án không xem xét giải quyết.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị Anh Đ phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà chị Trần Thị Anh Đ đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2021/0005922 ngày 11/5/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, nên chị Trần Thị Anh Đ không phải nộp tiếp.
  5. Án xử sơ thẩm xét xử công khai, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi Hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh TT Huế;
  • - VKSND TP H;
  • - Chi cục THADS TP H;
  • - UBND phường T H,
  • TP H (ĐKKH số 25,
  • quyển số: 01/1999
  • ngày 22/5/1999);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần D1

4

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2024/HNGĐ-ST ngày 04/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ - TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về xin ly hôn

  • Số bản án: 55/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ - TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đ - Đ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger