|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 55/2024/HS-ST Ngày: 04 tháng 6 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Hảo, ông Nguyễn Thanh Phương.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Diễm Mỹ, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Khánh Quỳnh, Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 34/2024/TLST-HS ngày 05/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXXST-HS ngày 10/4/2024 đối với bị cáo:
Dương Ngọc L (T), sinh năm 1990 tại C - An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ C, khóm V, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn T1 và bà Nguyễn Thị Bích L1; Tiền sự: không; Tiền án: Ngày 20/10/2010, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay thành phố) Châu Đốc kết án 07 năm tù, về tội “Cướp tài sản” đến ngày 14/10/2016 chấp hành xong; Bị cáo đang chấp hành án trong vụ án khác tại trại giam C, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).
Bị hại: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1988; trú tại: Số A, khóm H, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Tường N, sinh năm 1995, nơi cư trú: số A, khóm H, phường V, TP C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1963, nơi cư trú: Số C, Trần Hưng Đ, khóm E, phường C, TP C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị Thu L3, sinh năm 1969; bà Đoàn Đỗ Bích P, sinh năm 19943; bà Trương Thị N1, sinh năm 1938; ông Nguyễn Thành Đ1, sinh năm 1979; ông Trịnh Minh L4, sinh năm 1999. Tất cả vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 01 giờ ngày 19/11/2017, sau khi uống rượu L cùng Nguyễn Văn K và Nguyễn Thành Đ1, L rủ K và Đ1 đi chơi game, K đồng ý, còn Đ1 từ chối, về nhà. Khen điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HonDa, loại AirBlade, biển số 67E1-114.60 chở L đến tiệm Internet “Lâm Huy”, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang. Đến nơi, L hỏi mượn xe để về nhà xin tiền chơi game, K đồng ý, giao xe cho L chạy, về đến nhà, thấy đóng cửa, L điều khiển xe quay lại tiệm “Lâm Huy” để trả xe cho K. Trên đường đi, cần tiền chơi game, L nảy sinh ý định chiếm đoạt xe của K, điều khiển xe đến Quận E, phường H, TP Hồ Chí Minh, bán xe cho Dũng S (không rõ lai lịch) với giá 4.000.000 đồng. Phát hiện L chiếm đoạt xe, Khen trình báo Cơ quan Công an nhưng không rõ L ở đâu.
Qua công tác truy tìm, phát hiện L đang chấp hành án 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 21/12/2021) tại Trại giam C, tỉnh Đồng Tháp. Tiến hành làm việc, L thừa nhận hành vi chiếm đoạt xe mô tô của K đem bán cho Dũng S, chưa nhận tiền thì bị bắt giữ, xử lý trong vụ việc khác, không rõ hiện xe của K ở đâu, Cơ quan Công an không thu giữ được.
Vật chứng thu giữ: Không.
Căn cứ kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 52/KL-ĐG ngày 23/01/2024 của Hội đồng định giá thành phố C, ghi nhận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Air Blade, biển số 67E1-114.60, trị giá 18.000.000 đồng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố C khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Dương Ngọc L để điều tra, xử lý.
Tại Cáo trạng số 27/CT-VKSCĐ-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc đã truy tố bị cáo Dương Ngọc L (T) về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa,
- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng thể hiện. Bị cáo không có ý kiến gì về Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự. Trong phần tranh luận, bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin được xét xử 03 năm tù.
- Phát biểu quan điểm luận tội, Kiểm sát viên khẳng định Cáo trạng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật nên tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 140; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 33 và Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009, xử phạt bị cáo Dương Ngọc L từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Tổng hợp bản án này với bản án đang chấp hành theo quy định pháp luật.
Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 42 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009; các Điều 584, 585, 586 và 589 Bộ luật Dân sự năm 2015 buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tài sản cho bị hại số tiền 18.000.000 đồng.
Về án phí và quyền kháng cáo đề nghị HĐXX xem xét theo quy định.
Về vấn đề khác: Đối với người tên Dũng S mua xe mô tô do L bán, không rõ lai lịch, chưa làm việc được, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại gì đến việc xét xử. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (BLTTHS), Hội đồng xét xử (HĐXX) tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung:
Căn cứ khoản 3 Điều 7 của Bộ luật hình sự năm 2015 được SĐBS năm 2017; điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 thì HĐXX thấy rằng: Giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt 18.000.000 đồng. Tại khoản 1 Điều 140 của Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung 2009 có khung hình phạt từ 03 tháng đến 03 năm. Tại khoản 1 Điều 175 của Bộ Luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 thì có khung hình phạt từ 06 tháng nến 03 năm nên HĐXX quyết định áp dụng Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung 2009 có lợi cho bị cáo.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại, người liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội, cùng các vật chứng đã thu giữ và trả lại cho bị hại, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ kết luận:
Khoảng 01 ngày 19/11/2017 bị cáo đã mượn xe mô tô nhãn hiệu HonDa, loại AirBlade, biển số 67E1-114.60 trị giá 18.000.000 đồng của bị hại nhưng do cần tiền chơi game nên bị cáo đã nảy sinh ý định chiếm đoạt xe bằng cách bỏ trốn đến phường E, quận H, thành phố Hồ Chí Minh bán xe với giá 4.000.000 đồng.
Hành vi của bị cáo đã thỏa mãn mặt khách quan của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đọat tài sản; bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; thực hiện với lỗi cố ý; xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác nên đã đủ yếu tố cấu thành tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" được quy định tại khoản 1 Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009 có khung hình phạt tù 03 tháng đến 03 năm tù (tội phạm ít nghiêm trọng).
Vì vậy, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo có nhân thân xấu mới chấp hành án xong ngày 14/10/2016 thì ngày 19/11/2017 lại có hành vi phạm tội đến nay đang chấp hành Bản án về tội Trộm cắp tài sản với thời hạn là 04 năm tù. Do vậy, cần có mức hình phạt tương xứng đối với hành vi phạm tội của bị cáo để đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bị kết án 07 năm tù, chấp hành xong 14/10/2016 chưa được xóa án tích mà ngày 19/11/2017 lại phạm tội do cố ý. Do đó lần phạm tội này được coi là tái phạm được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, thuộc thành phần nhân dân lao động. Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm p khoản 1, 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.
Tổng hợp hình phạt của Bản án này với hình phạt 04 năm tù của Bản án số 24/2022/HS-ST ngày 12/4/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 Bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Thời hạn chấp hành hình phạt chung của bị cáo được tính kể từ ngày 23/12/2021 theo Bản án số 24/2022/HS-ST ngày 12/4/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và đang chấp hành trong bản án khác nên không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo theo đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp.
[5] Về bồi thường thiệt hại: Bị hại ông K có yêu cầu bồi thường giá trị chiếc xe nên buộc bị cáo bồi thường số tiền 18.000.000 đồng cho ông K theo quy định tại Điều 42 Bộ luật Hình sự và các Điều 584, 585, 586 và 589 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[6] Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật Tố tụng hình sự.
[7] Vấn đề khác: Đối với người tên Dũng S mua xe mô tô do L bán, không rõ lai lịch, chưa làm việc được, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 140; điểm p khoản 1,2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 51; Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009.
Tuyên bố bị cáo Dương Ngọc L (T) phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Xử phạt bị cáo Dương Ngọc L 02 năm tù.
Tổng hợp hình phạt của Bản án này với hình phạt 04 năm tù của Bản án số 24/2022/HS-ST ngày 12/4/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 Bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là 06 (sáu) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt chung của bị cáo được tính kể từ ngày 23/12/2021 theo Bản án số 24/2022/HS-ST ngày 12/4/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc.
-
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 42 Bộ luật Hình sự 1999, sửa đổi, bổ sung 2009; các Điều 584, 585, 586 và 589 Bộ luật dân sự;
Buộc bị cáo Dương Ngọc L bồi thường cho ông Nguyễn Văn K số tiền 18.000.000 (Mười tám triệu) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án
-
Về án phí sơ thẩm, quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 135, 136, 333 và Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Buộc bị cáo phải chịu 900.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Trần Thị Phương |
Bản án số 55/2024/HS-ST ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (vụ án hình sự)
- Số bản án: 55/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ăm 2009. Tuyên bố bị cáo Dương Ngọc L (T) phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Xử phạt bị cáo Dương Ngọc L 02 năm tù
