Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC LINH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 03 - 5 - 2024

Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Trường

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Thiện

2. Ông Nguyễn Thanh Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hải Lĩnh - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 5 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 578/2023/TLST-HNGĐ, ngày 22 tháng 12 năm 2023; về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 15 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Bùi Thị T, sinh năm 1995; Hộ khẩu thường trú: Đường N, tổ H, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Nơi ở hiện nay: Ấp A, xã A, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

2. Bị đơn: Anh Mai Hữu T1, sinh năm 1994; Nơi thường trú: Đường N, tổ H, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa vắng mặt nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; vắng mặt bị đơn không có lý do chính đáng cũng không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo hồ sơ vụ án nguyên đơn trình bày:

Chị Bùi Thị T, anh Mai Hữu T1 tự nguyện tìm hiểu, tiến đến hôn và đăng ký kết hôn vào năm 2020 tại UBND thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Sau khi kết hôn chị T, anh T1 chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh T1 sử dụng ma tuý, thường xuyên ghen tuông, chưởi bới đánh đập chị T vô cớ. Bản thân chị T và hai bên gia đình đã nhiều lần khuyên bảo, động viên nhưng anh T1 vẫn không thay đổi được. Do nhận thấy vợ chồng không còn hạnh phúc nên vào tháng 2/2023 chị T đã chuyển đến ấp A, xã A, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu sinh sống, làm ăn. Cũng kể từ đó chị T, anh T1 ly thân và không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc gì nhau. Hiện nay chị T không còn tình cảm với T1 và không mong muốn tiếp tục chung sống với anh T1 nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Quá trình chung sống chị T, anh T1 có một người con chung là Mai Phương A, sinh ngày 04/10/2020. Sau khi ly thân cho đến nay chị T là người trực tiếp nuôi con. Khi ly hôn chị T có nguyện vọng nuôi con và không yêu cầu anh T1 phải cấp dưỡng tiền nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung chị T không yêu cầu Toà án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Mai Hữu T1:

Sau khi thụ lý vụ án, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra viên giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập nhưng đều không có ý kiến gửi Tòa án, cũng không tham gia làm việc. Do đó, tòa án không ghi nhận được ý kiến.

Tại biên bản xác minh ngày 06/3/2024 thể hiện:

Chị Bùi Thị T, anh Mai Hữu T1 tự nguyện tìm hiểu và tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Thời gian đầu sau khi kết hôn chị T, anh T1 chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, sau này anh T1 dính vào tệ nạn ma tuý, nên từ đó vợ chồng thường xuyên nảy sinh mâu thuẫn. Gia đình hai bên nhiều lần khuyên bảo nhưng anh T1 vẫn không thay đổi được. Vào năm 2023 chị T đã bỏ đi đến tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu làm ăn. Từ đó vợ chồng ly thân với nhau.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh:

  • - Về tố tụng:
  • + Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân thủ theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự.
  • + Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.
  • + Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về quyền và nghĩa vụ của đương sự. Bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự.
  • - Về nội dung vụ án: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xử cho chị Bùi Thị T được ly hôn với anh Mai Hữu T1; giao con chung Mai Phương A, sinh ngày 04/10/2020 cho chị T nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Bị đơn anh Mai Hữu T1 hiện thường trú tại huyện Đ, tỉnh Bình Thuận nên việc khởi kiện của nguyên đơn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Chị Bùi Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, giải quyết quyền nuôi con với anh Mai Hữu T1 nên quan hệ pháp luật cần giải quyết là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt bị đơn anh Mai Hữu T1 không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, cũng không có lý do chính đáng. Vắng mặt nguyên đơn chị Bùi Thị T nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vắng mặt các đương sự tại phiên tòa là phù hợp.

[4] Chị Bùi Thị T, anh Mai Hữu T1 tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào ngày 13/7/2020, số vào sổ 70 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Sau khi kết hôn chị T, anh T1 chung sống hạnh phúc với nhau một thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn. Chị T cũng như hai bên gia đình đã nhiều lần khuyên bảo, động viên nhưng vẫn không có kết quả. Nên cả hai đã ly thân từ năm 2023 cho đến nay, từ đó không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc gì nhau; hiện nay chị T không còn tình cảm gì với anh T1 nên đề nghị giải quyết ly hôn. Bản thân anh T1, sau khi thụ lý vụ án mặc dù Tòa án đã nhiều lần tổ chức phiên họp, hòa giải đoàn tụ để các bên quay về chung sống với nhau nhưng không tham gia, không có ý kiến, điều đó chứng tỏ anh T1 cũng không còn tha thiết gì cuộc sống hôn nhân với chị T. Nên có cơ sở xác định mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh T1 đã kéo dài và trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được; do đó nếu có tiếp tục chung sống sẽ không tạo dựng được hạnh phúc mà mâu thuẫn sẽ lại càng nghiêm trọng hơn. Nên, cần xử cho chị T được ly hôn với anh T1 là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[5] Quá trình giải quyết vụ án chị T có nguyện vọng được quyền nuôi con Mai Phương A, sinh ngày 04/10/2020, trong khi anh T1 không có ý kiến gì. Việc giao con cho ai trực tiếp nuôi dưỡng thì cần căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt và xem xét nguyện vọng của con cũng như điều kiện thực tế của người trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, cháu A là nữ lại đang trong độ tuổi phát triển thể chất và tâm, sinh lý; từ trước đến nay do chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Để bảo vệ quyền lợi của con chưa thành niên về mọi mặt cần giao con cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

[6] Các bên không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung nên không xem xét.

[7] Chị T phải chịu án phí ly hôn theo quy định.

[8] Các đương sự đều có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 146; khoản 4 Điều 147; Điều 203; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; khoản 2 Điều 81; các Điều 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điều 26 Luật thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bùi Thị T.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị T được ly hôn với anh Mai Hữu T1.

    Giấy chứng nhận kết hôn đăng ký ngày 13/7/2020, số vào sổ 70 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận hết hiệu lực, kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.

  2. Về con chung: Giao cho chị Bùi Thị T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục người con chung Mai Phương A, sinh ngày 04/10/2020.

    Anh T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được ngăn cản. Trường hợp anh T1 lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh T1.

    Vì lợi ích của con, khi có lý do chính đáng, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  3. Về án phí: Chị Bùi Thị T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai số 0004081, ngày 22 tháng 12 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh. Chị T đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ, để Tòa án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm.
  5. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Đức Linh;
  • - UBND TT Đức Tài, huyện Đức Linh;
  • - C.C Thi hành án DS.h. Đức Linh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Đình Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2024/HNGĐ-ST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 55/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Thị Trang-Mai Hữu Thiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger