|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số 55/2024/HS-ST Ngày 01 tháng 8 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hán Hưởng
Thẩm phán: Ông Nguyễn Quang Vũ.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Trọng Quảng
- Ông Vương Đức Sỹ
- Bà Nguyễn Thị Phẩm
- Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Trọng Tú - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Đặng Nguyễn Hải Ninh - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 53/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 170/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024 đối với:
1. Bị cáo Trần Văn C, sinh ngày 31 tháng 5 năm 1969, tại huyện T, tỉnh Phú Thọ. Nơi thường trú: Khu I, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa lớp 02/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Trần Văn Q (đã chết); con bà Dương Thị T, sinh năm 1931, bị cáo có vợ là Lê Thị H, sinh năm 1968 và 03 người con, con lớn nhất sinh năm 1999, con nhỏ nhất sinh năm 2007.
Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 111 ngày 08/9/2020, của Công an huyện T đã xử phạt bị cáo số tiền 2.500.000 đồng về hành vi xâm phạm sức khỏe của người khác, C đã nộp phạt xong ngày 08/9/2020.
- Tại bản án hình sự sơ thẩm số 12 ngày 27/6/1997, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Tam Thanh (nay là huyện T), tỉnh Phú Thọ xử phạt 12 tháng tù về tội cố ý gây thương tích, bồi thường số tiền 703.000 đồng và 50.000 đồng án phí hình sự, 50.000 đồng án phí dân sự trong vụ án hình sự. Đến nay không có thông tin về bồi thường thiệt hại và án phí hình sự, án phí dân sự. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/01/1998.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 17/02/2024, hiện nay đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh P (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo:
- Bà Đỗ Hồng N - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P (vắng mặt, có quan điểm bảo vệ quyền lợi cho bị cáo tại phiên tòa).
- Ông Nguyễn Kim Á - Luật sư chỉ định Công ty L - Đoàn luật sư tỉnh P (có mặt).
2. Người bị hại: Anh Bùi Quang H1, sinh năm 1976
Địa chỉ: Khu A, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại: Bà Bùi Thu H2 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P (có mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Lê Thị H, sinh năm 1968 (là vợ bị cáo C).
Địa chỉ: Khu I, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
3.2. Chị Dương Thị T1, sinh năm 1981 (vợ anh H1)
Địa chỉ: Khu A, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trần Văn C và anh Bùi Quang H1, đều ở xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ có mối quan hệ họ hàng với nhau, trước đây giữa C và anh H1 đã có mâu thuẫn va chạm và C đã gây thương tích cho anh H1. Buổi trưa ngày 17/02/2024, khi anh H1 đang uống rượu tại nhà ông Bùi Xuân X, sinh năm 1959, ở khu A, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ thì anh H1 gọi điện thoại bảo C đến, còn ông X cũng từ bên ngoài vào bảo C đến uống rượu. C đồng ý và đi xe mô tô đến nhà ông X. Đến nơi, anh H1 mời rượu C nhưng C đã uống rượu từ trước đó nên từ chối. Anh H1 chửi C nhiều câu nên cả hai đã cãi nhau. Con trai ông X là anh Bùi Chí Q1, sinh năm 2001 thấy vậy nên đuổi anh H1 về.
Khoảng 15 phút sau thì anh H1 quay lại nhà ông X đòi uống rượu với C nhưng C không uống mà hất bỏ chén rượu anh H1 mời. Anh H1 và C lại tiếp tục cãi nhau. Ông X và anh Q1 can ngăn nên anh H1 ra về, còn C uống rượu với ông X đến khoảng 16 giờ cùng ngày thì về. Trên đường về, anh H1 tiếp tục gọi điện thoại cho C và bảo C đến nhà ông Nguyễn Văn T2 - sinh năm 1968, ở khu A, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Cúc không đồng ý. Sau đó, giữa C và anh H1 gọi điện thoại qua lại nhiều lần cho nhau. C yêu cầu H1 phải đến nhà xin lỗi mẹ đẻ của C vì nhiều lần anh H1 chửi C, anh H1 hẹn C đến nhà ông T2. Khoảng gần 17 giờ cùng ngày, C đi đến nhà ông T2. Trên xe mô tô của C để sẵn 01 con dao cài ở giá để hàng, loại dao bầu, dài 29cm, cán dao bằng gỗ dài 11cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 18cm. Đây là con dao C dùng đi mổ lợn thuê nên để sẵn ở xe. Đến nơi, C dựng xe ở ngoài đường bê tông trước cổng nhà ông T2. C đi bộ vào nhà thì thấy H1 ngồi ở bàn uống nước. C bảo với anh H1 phải sang xin lỗi mẹ C vì H1 chửi nhiều. H1 không đồng ý mà đứng dậy đi về. Anh H1 dắt xe mô tô ra đến cổng thì C đi bộ theo, ra đến cổng thì H1 dựng xe ở lề đường và đứng lại cãi nhau với C. C bực tức lấy con dao cài ở xe của mình cầm dao tay trái, đứng đối diện với anh H1, cách khoảng 1m rồi vung dao hướng từ sau ra trước đâm một nhát, trúng vào ngực anh H1 rồi rút dao ra. Anh H1 dùng tay bo ngực. Cúc cài lại dao vào giá để hàng xe mình và đi xe về nhà nói chuyện với vợ. C đã giao nộp con dao dùng để đâm anh H1.
Anh Bùi Quang H1 bị hôn mê, vết thương ở ngực trái rách da, sắc gọn, chảy máu, vết thương thấu qua thành ngực vào màng phổi gây tràn dịch màng phổi, rách màng ngoài tim. Anh H1 được đưa đi cấp cứu tại Trung tâm Y tế huyện T và Bệnh viện đa khoa tỉnh P từ ngày 17/02/2024 đến ngày 29/02/2024 được ra viện.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định thương tích đối với anh Bùi Quang H1.
Tại Kết luận giám định về tổn thương cơ thể trên người sống số 3/KLTTCT/TTPY ngày 29/02/2024 của Trung tâm pháp y - Sở Y tế tỉnh P kết luận: Tại thời điểm giám định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Bùi Quang H1 là 26 %; Cơ chế hình thành vết thương: Vết thương số một ngực bên trái, rách khoang màng phổi bên trái, rách màng ngoài tim: Do tác động của vật sắc nhọn gây nên; Vết thương số hai, số ba, số bốn ngực bên trái, cắt xương ức, dẫn lưu khoang màng phổi trái: Do bác sỹ phẫu thuật để điều trị; Với những thương tích nêu trên của anh Bùi Quang H1 nếu không được cấp cứu kịp thời có thể dẫn đến tử vong.
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh P đã trưng cầu giám định bổ sung tổn thương cơ thể đối với anh Bùi Quang H1.
Tại Kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 88/KLBSTTCT/TTPY ngày 30/5/2024, kết luận: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sau giám định lần đầu và giám định bổ sung của anh Bùi Quang H1 là 26%; Tại thời điểm giám định anh Bùi Quang H1 không để lại di chứng.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định dấu vết máu gửi giám định trên chiếc áo phông và con dao thu giữ được.
Tại Kết luận giám định số 1375/KL-KTHS ngày 22/3/2024, V Bộ C2 kết luận: “Dấu vết màu nâu đỏ gửi giám định là máu người và là máu của Bùi Quang H1; Trên chiếc áo phông và con dao gửi giám định có bám dính dấu vết máu người và là máu của Bùi Quang H1”.
Quá trình điều tra, Bùi Quang H1 xuất trình sổ điều trị bệnh tâm thần do Bệnh viện tâm thần tỉnh P cấp. Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định tâm thần đối với Bùi Quang H1.
Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số 54/KLGĐ ngày 03/5/2024 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc, kết luận: Bùi Quang H1 bị bệnh Động kinh không có rối loạn tâm thần; Tại thời điểm anh Bùi Quang H1 bị Trần Văn C dùng dao đâm gây thương tích ngày 17/02/2024, Bùi Quang H1 không bị bệnh tâm thần. Bùi Quang H1 đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi. Hiện tại (Tại thời điểm giám định) Bùi Quang H1 không bị bệnh tâm thần. Bùi Quang H1 đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Gia đình Trần Văn C thuộc hộ cận nghèo.
* Vật chứng, tài sản thu giữ: Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 con dao bằng kim loại, loại dao bầu, dài 29cm. chuôi bằng gỗ, một lưỡi sắc, mũi nhọn, vị trí rộng nhất 4,8cm; lưỡi dao dài 18cm; chuôi dao bằng gỗ dài 11 cm, đường kính đầu chuôi dao là 2,1cm, bề mặt dao bám dính chất màu nâu đỏ; 01 xe mô tô nhãn hiệu Gentle, Wave, màu đỏ, biển kiểm soát 19K7-3720 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu vàng, imei: 355634044760319 và imei 355634044960315, lắp sim 0386940394. Đây là tài sản, đồ vật của Trần Văn C, sử dụng để đâm, chém, liên lạc và đi đến gặp anh Bùi Quang H1; 01 chiếc áo phông cộc tay màu xanh, tại ngực áo bên trái 0,33m và cách vạt áo 0,43m có một vết rách sắc gọn kích thước 2x0,2cm là áo của anh H1 mặc khi bị C đâm. Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ mẫu chất dịch màu nâu đỏ nhưng đã giám định hết.
* Về trách nhiệm dân sự: Anh Bùi Quang H1 yêu cầu Trần Văn C phải bồi thường là 140.000.000 đồng, trong đó chi phí viện phí, tiền thuốc là 80.000.000 đồng; Tiền bồi thường tổn thất tinh thần, bồi dưỡng sức khỏe, tiền ăn là 50.000.000 đồng; Tiền chi phí đi lại, thăm nuôi là 10.000.000 đồng. Đến nay, C chưa bồi được khoản tiền nào cho anh H1. Trong thời gian anh H1 điều trị thì có vợ là chị Dương Thị T1 - sinh năm 1981, ở khu A, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ chăm sóc anh H1. Chị T1 làm ruộng, có làm thêm nghề thợ may, thu nhập trung bình khoảng 5.000.000 đồng/tháng. Đối với anh Bùi Quang H1, làm nghề lao động tự do (khai là đi chặt gỗ thuê, thu nhập bấp bênh), Cơ quan điều tra đã xác minh thu nhập bình quân đầu người trên địa bàn xã Đ là 56.400.000 đồng/người/năm.
* Về điều kiện kinh tế: Trần Văn C và vợ đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất 67, tờ bản đồ 43, diện tích 701,4m² ở khu I, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ, gia đình C đang sinh sống tại ngôi nhà cấp 4 xây trên đất.
Bản cáo trạng số: 60/CT-VKS-P2 ngày 25 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo Trần Văn C về tội Giết người, tình tiết “Có tính chất côn đồ” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Trần Văn C phạm tội Giết người.
Về hình phạt: Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, Điều 13, Điều 15, khoản 3 Điều 57; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Văn C từ 12 (Mười hai) năm đến 13 (Mười ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 17/02/2024.
Về xử lý vật chứng:
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử lý vật chứngnhư sau:
- Tịch thu 01 túi niêm phong, bên ngoài được dán tem giấy niêm phong, trên tem giấy niêm phong được đóng hình dấu tròn màu đỏ của Viện khoa hoạc hình sự Bộ C2 và có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong. Trên tem giấy niêm phong ghi: H3 lại đối tượng định theo KLGĐ số 1375/KL-KTHS ngày 22/3/2024 của V - ÁO PHONG MÀU XANH XÁM. Bên trong túi niêm phong có 01 áo phông cộc tay màu xanh xám, kích thước đo từ cổ áo bên trái là 0,78m. Tại mặt trước áp có bám dính chất dịch màu nâu đỏ, kích thước 0,53 x 0,36 m. Tại ngực bên trái cách đầu tay áp bên trái 0,33m và cách vạt áo 0,43m, có một vết rách sắc gọn kích thước 2x 0,2cm, áo cũ, qua sử dụng không có giá trị sử dụng nên tịch thu để tiêu hủy.
- Tịch thu 01 túi niêm phong bên ngoài được dán tem giấy niêm phong, trên tem giấy niêm phong được đóng hình dấu tròn màu đỏ của V Bộ C2 và có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong. Trên tem giấy niêm phong ghi: Hoàn trả lại đối tượng giám định theo KLGĐ số 1375/KL-KTHS ngày 22/3/2024 của V - DAO BẦU. Bên trong túi niêm phong có 01 con dao loại dao bầu dài 29 cm, bản rộng nhất 4,8cm, bề mặt lưỡi dao bám dính chất dịch màu nâu đỏ, dao cũ, qua sử dụng là công cụ phạm tội không còn giá trị sử dụng cần tịch thu để tiêu hủy.
- Trả lại 01 xe mô tô BKS 19K7-3720, màu đỏ đen, số máy FMHG00001048, số khung: HOND51C011048, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy móc bên trong; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu vàng, số IMEI: 355634044760319, số IMEL2: 355634044960315, gắn thẻ sim số 0386940394, đã cũ, qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:
Đề nghị buộc bị cáo phải bồi thường cho người bị hại các khoản sau đây:
- Chi phí thuốc men, viện phí cho anh Bùi Quang H1 từ ngày 17/02/2024, đến ngày 29/02/2024 (theo bảng kê chi phí điều trị nội trú số tiền 58.710.381 đồng, trừ bảo hiểm y tế đã thanh toán 44.518.381 đồng) còn lại 14.192.000đồng.
- Tiền tự bỏ ra để chi phí mua một số loại thuốc, vật tư y tế theo chỉ định của bác sỹ, có bản kê kèm theo 28.358.530đồng.
- Tiền chi phí thuốc điều trị, phẫu thuật, thủ thuật gia đình phải thanh toán 22.000.000đồng; (không có)
- Tiền tiền bồi thường tiệt hại 26% sức khỏe 30.420.000đồng;
- Tiền công người chăm nuôi trong thời gian nằm viện và tại bênh viện tâm thần 39 ngày (trong đó 12 ngày điều trị thương tích và 27 ngày chăm nuôi tại bênh viện tâm thần) ngày = 6.920.000 đ
- Tiền mất thu nhập trong thời gian nằm viện và sau khi ra viện 23.500.000 ₫
- Tiền thuê xe đi cấp cứu, đi giám định thương tích, đi giám định tâm thần 5.000.000đồng.
Tổng cộng là 108.390.530đ (Một trăm linh tám triệu ba trăm chín mươi nghìn năm trăm ba mươi đồng).
Về án phí: Bị cáo là đối tượng hộ nghèo nên miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong vụ án hình sự cho bị cáoTrần Văn C1.
Bà Đỗ Hồng N - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P và ông Nguyễn Kim Á cùng có quan điểm bào chữa cho bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Văn C và đề nghị xử phạt mức thấp nhất Kiểm sát viên đã đề nghị 12 năm tù và xin miễn án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự trong vụ án hình sự đối với bị cáo Trần Văn C.
Bà Bùi Thu H2 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P bảo vệ quyền lợi người bị hại có quan điểm trình bày: Đề nghị xử tăng mức hình phạt lên 17 năm tù đối với bị cáo C và tăng mức bồi thường thiệt hạicho anh H1. Người bị hại nhất trí quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp người bị hại, không tham gia tranh luận gì thêm.
Bị cáo không tham gia tranh luận gì về bản luận tội và các nội dung đề nghị của Kiểm sát viên và nói lời sau cùng: Bị cáo tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát được thực hiện theo đúng trình tự thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều tra viên, Kiểm sát viên thực hiện việc điều tra, thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự đã đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
[2] Về chứng cứ buộc tội đối với bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có lời bào chữa nào khác, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Lời khai phù hợp với các tài liệu thu giữ được, có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 17 giờ ngày 17/02/2024, tại khu vực cổng nhà ông Nguyễn Văn T2, ở khu A, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ, Trần Văn C trước đó uống rượu, không làm chủ được bản thân đã có hành vi sử dụng 01 con dao loại dao bầu dài 29cm đâm 01 nhát trúng vào ngực trái, làm rách khoang màng phổi, rách màng ngoài tim anh Bùi Quang H1, làm anh H1 bị tổn thương cơ thể, tỷ lệ là 26%. Hành vi của Trần Văn C uống rượu, sử dụng con dao bầu đâm vào ngực của anh H1 là vùng trọng yếu của cơ thể, nên bị cáo bị truy tố về tội giết người là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội: Trước đó, bị cáo C và anh H1 đã uống rượu cùng nhau, đã có mâu thuẫn với nhau, nhưng chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt giữa bị cáo và anh H1 nhưng bị cáo đã dùng dao đâm vào ngực là vùng trọng yếu của cơ thể nhằm tước đoạt tính mạng của anh H1, nhưng anh H1 không chết là do được cấp cứu kịp thời. Hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất côn đồ, thỏa mãn cấu thành tội Giết người, tình tiết phạm tội “Có tính chất côn đồ”, là tình tiết định khung quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật hình sự.
[3] Xét tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất đặc biệt nghiêm trọng, bị cáo thực hiện hành vi lỗi cố ý trực tiếp, mục đích nhằm tước đi tính mạng của người bị hại được pháp luật tôn trọng bảo vệ. Vì vậy, hành vi của bị cáo phải bị xử lý nghiêm khắc.
[4] Xét về các tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
4.1 Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo C thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là “Người phạm tội thành khẩn khai báo hoặc ăn năn hối cải”, quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
4.2 Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
4.3 Về nhân thân của bị cáo: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã có 01 lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý gây thương tích và 01 lần bị xét xử về hành vi phạm tội cố ý gây thương tích nên cần phải xem xét khi áp dụng hình phạt cụ thể đối với bị cáo.
4.4 Về nguyên tắc quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội chưa đạt: Khoản 3 Điều 57 của Bộ luật hình sự quy định “Đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình thì áp dụng hình phạt tù không quá 20 năm. Cần được áp dụng khi áp dụng mức hình phạt cụ thể đối với bị cáo.
Căn cứ tính chất hành vi phạm tội; căn cứ tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thì thấy rằng: Phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, mức hình phạt tương xứng tính chất của hành vi phạm tội mới đảm bảo trừng trị, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa trong xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Khoản 4 Điều 123 của Bộ luật hình sự quy định. “4. Người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm”.
Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, công việc không ổn định và bị áp dụng hình phạt tù nên không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
- Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 con dao bằng kim loại bị cáo làm công cụ thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên phải tịch thu để tiêu hủy.
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Gentle, Wave, màu đỏ, biển kiểm soát 19K7-3720 đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu vàng, imei: 355634044760319 và imei 355634044960315, lắp sim 0386940394 là tài sản riêng của bị cáo không liên quan hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
- Đối với 01 chiếc áo phông cộc tay màu xanh là áo của anh H1 mặc khi bị C đâm nhưng không còn giá trị sử dụng nên tịch thu để tiêu hủy.
[7] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:
Xét đề nghị của người bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại là có căn cứ, nên cần buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho người bị hại như sau:
Các khoản tiền bồi thường có hóa đơn gồm có:
- Tiền mua thuốc, viện phí cho anh Bùi Quang H1 từ ngày 17/02/2024, đến ngày 29/02/2024 (theo bảng kê chi phí điều trị nội trú số tiền 58.710.381 đồng, trừ bảo hiểm y tế đã thanh toán 44.518.381 đồng) còn lại 14.192.000đồng.
- Tiền mua một số loại thuốc, vật tư y tế theo chỉ định của bác sỹ, có bản kê kèm theo 28.358.530đồng.
- Tiền mua thuốc điều trị, phẫu thuật, thủ thuật gia đình phải thanh toán 22.000.000đồng;
- Tiền bồi thường tiệt hại 26% sức khỏe 30.420.000đồng;
- Tiền công người chăm nuôi anh H1 40 ngày (13 ngày anh H1 điều trị vết thương và 27 ngày chăm sóc anh H1 tại Bệnh viện T để giám định) chị T1 là vợ trực tiếp chăm sóc, trong khi đó chị T1 làm công nhân, có mức thu nhập 5.000.000đồng/tháng: 26 ngày làm việc, tương ứng 192.000đồng/ngày x 40 ngày, làm tròn = 7.692.000đồng
- Tiền mất thu nhập của anh H1 (Trong thời gian 13 ngày nằm viện điều trị vết thương, 27 ngày tại bệnh viện T và sau khi anh H1 về nhà không lao động được, tổng cộng 02 tháng); trong khi đó, không xác định được mức thu nhập của anh H1, nên phải căn cứ vào mức thu nhập vùng tại huyện Tlà 3.450.000đồng/tháng x 2 tháng = 6.900.000đồng.
- Tiền thuê xe đi cấp cứu, đi giám định thương tích, đi giám định tâm thần 5.000.000đồng.
Tổng cộng là 114.562.530đ (Một trăm mười bốn triệu năm trăm sáu mươi hai nghìn năm trăm ba mươi đồng).
[8] Về án phí: Bị cáo Trần Văn C là đối tượng hộ nghèo và xin miễn án phí, nên miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hình sự cho bị cáo Trần Văn C.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
-
Về điều luật áp dụng:
Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 13, Điều 15 và khoản 3 Điều 57 của Bộ luật hình sự.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn C phạm tội “Giết người”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Văn C 12 (Mười hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam giữ, tạm giam ngày 17/02/2024.
-
Về xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu 01 túi niêm phong, bên ngoài được dán tem giấy niêm phong, trên tem giấy niêm phong được đóng hình dấu tròn màu đỏ của V Bộ C2 và có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong. Trên tem giấy niêm phong ghi: H3 lại đối tượng giám định theo KLGĐ số 1375/KL-KTHS ngày 22/3/2024 của V - ÁO PHONG MÀU XANH XÁM”. Bên trong túi niêm phong có 01 áo phông cộc tay màu xanh xám, kích thước đo từ cổ áo bên trái là 0,78m. Tại mặt trước áo có bám dính chất dịch màu nâu đỏ, kích thước 0,53 x 0,36 m. Tại ngực bên trái cách đầu tay áp bên trái 0,33m và cách vạt áo 0,43m, có một vết rách sắc gọn kích thước 2x 0,2cm, áo cũ không còn giá trị sử dụng để tiêu hủy.
- Tịch thu 01 túi niêm phong bên ngoài được dán tem giấy niêm phong, trên tem giấy niêm phong được đóng hình dấu tròn màu đỏ của V Bộ C2 và có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong. Trên tem giấy niêm phong ghi: Hoàn trả lại đối tượng giám định theo KLGĐ số 1375/KL-KTHS ngày 22/3/2024 của Viện hoa học hình sự - DAO BẦU. Bên trong túi niêm phong có 01 con dao loại dao bầu dài 29 cm, bản rộng nhất 4,8cm, bề mặt lưỡi dao bám dính chất dịch màu nâu đỏ, dao cũ là công cụ thực hiện hành vi phạm tội nhưng không có giá trị sử dụng nên phải tịch thu để tiêu hủy.
- Trả lại cho bị cáo Trần Văn C 01 xe mô tô BKS 19K7-3720, màu đỏ đen, số máy FMHG00001048, số khung: HOND51C011048, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy móc bên trong; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu vàng, số IMEI: 355634044760319, số IMEL2: 355634044960315, gắn thẻ sim số 0386940394, đã cũ, qua sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 25/6/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ).
-
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:
Áp dụng các Điều 584, 585 và Điều 590 của Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo Trần Văn C phải bồi thường thiệt hại cho anh Bùi Quang H1 các khoản tiền sau đây:
- Tiền mua thuốc, viện phí cho anh Bùi Quang H1 từ ngày 17/02/2024, đến ngày 29/02/2024 (theo bảng kê chi phí điều trị nội trú số tiền 58.710.381 đồng, trừ bảo hiểm y tế đã thanh toán 44.518.381 đồng) là 14.192.000đồng.
- Tiền mua thuốc, vật tư y tế theo chỉ định của bác sỹ, có bản kê kèm theo 28.358.530đồng.
- Tiền mua thuốc điều trị, phẫu thuật, thủ thuật gia đình phải thanh toán 22.000.000đồng;
- Tiền bồi thường thiệt hại 26% sức khỏe là 30.420.000đồng;
- Tiền công người chăm nuôi anh H1 40 ngày (làm tròn) = 7.692.000đồng
- Tiền mất thu nhập của anh H1 trong 02 tháng = 6.900.000đồng.
- Tiền thuê xe đi cấp cứu, đi giám định thương tích, đi giám định tâm thần 5.000.000đồng.
Tổng cộng là 114.562.530đ (Một trăm mười bốn triệu năm trăm sáu mươi hai nghìn năm trăm ba mươi đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án không thanh toán số tiền trên, thì phải trả lãi suất đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
-
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án và Điều 26 của Luật thi hành án dân sự.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong vụ án hình sự cho bị cáo Trần Văn C.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật Thi hành án”.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có mặt có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án cấp cao tại Hà Nội để xét xử theo trình tự phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hán Hưởng |
Bản án số 55/2024/HS-ST ngày 01/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về giết người
- Số bản án: 55/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Giết người
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn C - Tội Giết người
