Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2025/LĐ-ST

Ngày: 25-02-2025

V/v tranh chấp về bảo hiểm xã hội.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Trọng Quân

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Nguyễn Thị Kim Thu - Nguyên Trưởng Phòng Lao động thương binh và Xã hội thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương;
  2. Bà Phạm Thị Thu Yến – Nguyên Phó Trưởng Phòng Lao động thương binh và Xã hội thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Lý Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 303/2024/TLST-LĐ ngày 15 tháng 10 năm 2024 về việc: “Tranh chấp về bảo hiểm xã hội”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2025/QĐXXST-LĐ ngày 07 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1968; nơi thường trú: Thôn S, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; địa chỉ liên lạc: H, khu phố Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
  2. Bị đơn: Công ty TNHH J., LTD; trụ sở: Đường Số D, KCN Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Người đại diện hợp pháp: Ông Trần Đăng M, sinh năm 1979; địa chỉ: H, N, phường G, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy ủy quyền số 81/2025/GUQ ngày 07/02/2025) – Có mặt.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bảo hiểm xã hội thành phố T, địa chỉ: Đường N, khu phố B, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng nguyên đơn bà Nguyễn Thị N trình bày:

Tháng 5 năm 2023, bà Nguyễn Thị N và Công ty TNHH J., L (Gọi tắt là Công ty) có ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn, vị trí công việc là công nhân với mức lương theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động mà hai bên ký kết. Từ khoảng cuối năm 2023, do tình hình sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn, người đại diện của Công ty có nói bà N nghỉ làm một thời gian nếu có công việc sẽ gọi công nhân quay lại làm việc, nhưng từ tháng 01 năm 2024 đến nay Công ty đã đóng cửa không còn hoạt động nữa, buộc bà N phải xin việc làm tại Công ty khác. Tuy nhiên, khi đi làm thủ tục ở bảo hiểm xã hội bà N mới được biết kể từ khi bà N nghỉ việc đến nay Công ty chưa thực hiện nghĩa vụ thanh toán bảo hiểm xã hội cho bà N theo quy định, cụ thể Công ty chưa thanh toán bảo hiểm cho bà N từ tháng 8 năm 2023 đến tháng 12 năm 2023. Đến nay, bà N vẫn chưa nhận được quyết định thôi việc và Công ty chưa chốt bảo hiểm xã hội cho bà N theo quy định. Sau đó, bà N đã nộp đơn yêu cầu hòa giải tranh chấp lao động tại Phòng lao động - Thương binh và xã hội thành phố T. Vào các ngày 28/02/2024 và ngày 06/3/2024, Phòng lao động - Thương binh và xã hội thành phố T có tổ chức hòa giải giữa hai bên, Công ty đã thừa nhận việc còn nợ bảo hiểm xã hội của người lao động và cam kết thực hiện thanh toán theo quy định, nhưng đến nay Công ty không thực hiện như cam kết nên bà N chưa được giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định.

Nhận thấy, việc Công ty không thực hiện việc thanh toán bảo hiểm xã hội theo quy định làm cho bà N không được hưởng chế độ của nhà nước, làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi hợp pháp của mình. Do đó, bà N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc Công ty TNHH J., LTD đóng tiền bảo hiểm và chốt trả sổ bảo hiểm xã hội cho bà N từ tháng 8 năm 2023 đến tháng 12 năm 2023 theo quy định của pháp luật.

- Bị đơn Công ty TNHH J., LTD do ông Trần Đăng M đại diện trình bày: Thống nhất với nguyên đơn về việc hai bên có ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Do hiện nay Công ty đang gặp khó khăn và không còn hoạt động, không có nguồn tài chính để thực hiện ngay việc thanh toán Bảo hiểm xã hội cho nguyên đơn. Thực tế hiện nay nhà xưởng của Công ty đang bỏ trống, không còn hoạt động sản xuất, kinh doanh do không có nguồn tài chính để duy trì; Công ty rất thiện chí để chấp hành các quy định của pháp luật để bảo vệ quyền lợi cho người lao động nhưng chưa thể thực hiện ngay vì không có đủ điều kiện thực hiện. Công ty đề nghị Tòa án căn cứ vào kết quả đóng bảo hiểm xã hội thực tế của người lao động tại Bảo hiểm xã hội thành phố T để giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo quy định của pháp luật, tuyên xử mức đóng và thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo đúng quy định của pháp luật để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn. Bị đơn không có yêu cầu phản tố.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Bảo hiểm xã hội thành phố T trình bày: Công ty đóng BHXH, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp cho bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1968 mã số BHXH 7410288382 hiện nay còn nợ BHXH từ tháng 8 năm 2023 đến tháng 12 năm 2023. Cơ quan Bảo hiểm xã hội thành phố T đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật; do công việc của cơ quan rất nhiều nên đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được pháp luật quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng pháp luật tố tụng. Riêng bị đơn giai đoạn đầu khi mới thụ lý không chấp hành đúng pháp luật tố tụng; tuy nhiên sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, bị đơn đã hợp tác, cử người đại diện tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa và đã có ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã thu thập và kết quả tranh luận tại phiên tòa, nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp: Bà Nguyễn Thị N khởi kiện Công ty TNHH J., LTD yêu cầu truy đóng tiền bảo hiểm xã hội. Xét, đây là vụ án tranh chấp về bảo hiểm xã hội được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn Công ty TNHH J., LTD có địa chỉ trụ sở chính tại đường số D, KCN Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An.

[3] Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bà N vào làm việc tại Công ty từ tháng 5 năm 2023, có ký hợp đồng lao động và tham gia bảo hiểm xã hội cho bà N theo quy định tại khoản 1 Điều 19 và khoản 2 Điều 21 Luật Bảo hiểm xã hội. Theo trình bày của bà N, do không có việc làm nên người đại diện của Công ty nói bà tạm thời nghỉ việc, khi nào có việc làm sẽ gọi vào làm việc. Theo Công văn số 1348/CV-BHXH ngày 25/12/2024 của Bảo hiểm xã hội thành phố T xác định: Bà Nguyễn Thị N, sinh ngày 02/9/1968, mã số Bảo hiểm xã hội 7410288382 có quá trình tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH J., LTD từ tháng 12/2013, Công ty đã thanh toán bảo hiểm xã hội cho bà N, hiện còn nợ từ tháng 8 năm 2023 đến tháng 12 năm 2023. Như vậy, việc Công ty không nộp tiền bảo hiểm xã hội cho bà N và không xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội cho bà N là vi phạm pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà N theo quy định tại khoản 5 Điều 21 Luật bảo hiểm xã hội, khoản 3 Điều 48 của Bộ luật Lao động nên yêu cầu khởi kiện của bà N là có căn cứ. Đại diện của bị đơn trình bày hiện nay Công ty đang gặp khó khăn về tài chính, không có điều kiện để thực hiện ngay việc đóng BHXH cho bà N là không được chấp nhận.

Từ những phân tích nêu trên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà N, buộc Công ty TNHH J., LTD phải đóng tiền bảo hiểm xã hội cho bà N tại Bảo hiểm xã hội thành phố T từ tháng 8/2023 đến hết tháng 12/2023. Mức đóng và số tiền phải đóng được thực hiện theo quy định pháp luật về Bảo hiểm xã hội và buộc Công ty TNHH J., L thực hiện xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội cho bà N theo quy định pháp luật.

[5] Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về án phí: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên Công ty TNHH J., LTD phải chịu án phí lao động sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Điểm d khoản 1 Điều 32; điểm c khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 235; Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Điều 48 Bộ luật Lao động;
  • - Các Điều 17, 18, 19, 21, 85, 86, khoản 2 Điều 89 của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N đối với bị đơn Công ty TNHH J., LTD về việc tranh chấp bảo hiểm xã hội.
    • - Buộc Công ty TNHH J., LTD phải đóng tiền bảo hiểm xã hội cho bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1968, căn cước công dân số [...] cấp ngày 21/3/2022 có mã số bảo hiểm xã hội: 7410288382 tại Bảo hiểm xã hội thành phố T từ tháng 8 năm 2023 đến tháng 12 năm 2023. Mức đóng và số tiền phải đóng được thực hiện theo quy định của pháp luật về Bảo hiểm xã hội.
    • - Buộc Công ty TNHH J., L thực hiện xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội cho bà Nguyễn Thị N theo quy định của pháp luật.
  2. Về án phí: Công ty TNHH J., LTD phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí lao động sơ thẩm.

Bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND Tp. Thuận An;
  • - CCTHADS Tp. Thuận An;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Trọng Quân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2025/LĐ-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp về bảo hiểm xã hội

  • Số bản án: 55/2025/LĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về bảo hiểm xã hội
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Lao động
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Bảo hiểm xã hội Nhung - Cty JingTzuan
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger