Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MƯỜNG TÈ

TỈNH LAI CHÂU


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 55/2025/HSST

Ngày: 25/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Giàng A Lình; bà Vàng Thị Thu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tuấn- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè tham gia phiên tòa: Bà Lò Thị Kẻo- Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 53/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Đỗ Văn L, sinh năm 1964, tại huyện H, tỉnh Thái Bình.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Khu G, thị trấn M, huyện M, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 7/12; Chức vụ đoàn thể, chính quyền: Không; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đỗ Văn B và con bà Trần Thị C (cả hai đều đã chết); Bị cáo có vợ: Đỗ Thị T, sinh năm 1963 và có 02 con, con lớn sinh năm 1984, con nhỏ sinh năm 1990; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại bản án số 27 ngày 08/12/1980 bị Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội "Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa" với thời gian thử thách 02 năm. Tại bản án số 17 ngày 16/8/1986 bị Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xử phạt 18 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản riêng công dân". Tại bản án số 83 ngày 23/10/1986 bị Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xử phạt 18 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản riêng công dân"; Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 06/7/2024 đến ngày 14/7/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn, cấm đi khỏi nơi cư trú, đến nay có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Phan Văn H, sinh năm 1963.

Địa chỉ: Bản T, xã T, huyện M, tỉnh Lai Châu.

Có đơn xin vắng mặt.

Người làm chứng: Ông Pờ Gia X, sinh năm 1980.

Địa chỉ: Bản H, xã B, huyện M, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ ngày 05/7/2024, Đỗ Văn L một mình điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha, màu sơn đen, biển kiểm soát: 30Y7 - 3377 (thuộc quyền sở hữu của Phạm Văn H1 người quen của L), đi từ xưởng mộc của gia đình L thuộc Khu phố H, thị trấn M, huyện M, tỉnh Lai Châu đến khu vực Trung tâm y tế huyện M thuộc khu phố I, thị trấn M, huyện M để tìm mua H2 đem về sử dụng. Tại đây, L gặp một người đàn ông dân tộc La Hủ, lạ mặt giống người nghiện nên L đã chủ động hỏi mua Heroine để sử dụng, và được người đàn ông này bán cho 01 gói Heroine, lớp bên ngoài được gói bằng mảnh giấy màu nâu, lớp bên trong được gói bằng mảnh nilon màu hồng với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được H2, L cất giấu vào trong túi quần bên trái mà L đang mặc rồi điều khiển xe về xưởng mộc của gia đình L tại khu phố H, thị trấn M. Về đến địa điểm nói trên, L lấy gói Heroine mới mua được ra lấy một ít để sử dụng hết, số Heroine còn lại Lâm gói lại như cũ và tiếp tục cất giấu tại vị trí ban đầu, không cho ai biết.

Đến khoảng 23 giờ cùng ngày 05/7/2024, khi L đang ở xưởng một mình thì có Pờ Gia Xá đến và hỏi mượn xe máy của L và được L đồng ý, sau đó L nhờ X dùng chiếc xe máy như đã mô tả ở trên chở L về nhà ở thuộc Khu phố G, thị trấn M và được X đồng ý. Trên đường đi, L lo sợ hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của mình bị phát hiện, nên đã lấy gói Heroine từ trong túi quần bên trái ra để cầm trong tay phải với mục đích nếu gặp tổ công tác thì sẽ vứt đi (quá trình L thực hiện hành vi cất giấu gói Heroine X1 không biết).

Vào hồi 23 giờ 10 phút cùng ngày, X1 và L đi đến đoạn Cửa hàng G thuộc đường Đ thuộc khu phố H, thị trấn M, huyện M thì gặp Tổ công tác Đ - Công an huyện M đang tuần tra, kiểm soát tại khu vực, yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Lúc này, do lo sợ nên L đã thả gói H2 đang cầm trên tay phải xuống đất, tại vị trí dừng xe. Tuy nhiên, hành vi thả gói Heroine của L đã bị Tổ công tác phát hiện và kịp thời khống chế. Trước sự việc trên, lực lượng chức năng đã tiến hành khám nghiệm hiện trường thu giữ, niêm phong toàn bộ vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tại kết luận giám định số 99/KLGĐ ngày 06/7/2024 của Người giám định tư pháp theo vụ việc kết luận: 01 mẫu chất bột khô, màu trắng thu giữ của Đỗ Văn L có khối lượng là 1,1 gam.

Tại kết luận giám định số 932/GĐ-KTHS ngày 09/7/2024 của Phòng K - Công an tỉnh L kết luận: 01 mẫu chất bột, màu trắng thu giữ của Đỗ Văn L gửi giám định là ma túy, loại Heroine.

Tại kết luận giám định số 445/24/KLGDADN-PYQG ngày 09/8/2024 của V kết luận: ADN thu giữ từ mảnh giấy màu nâu gửi giám định có hiện diện đầy đủ các alen của Đỗ Văn L trên tất cả các locus STR đã so sánh.

Tại bản cáo trạng số 10/CT- VKS-MT ngày 08/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè truy tố bị cáo Đỗ Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Đỗ Văn L từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì nên không đề cập giải quyết.

Xử lý vật chứng, đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh giấy màu nâu; 01 mảnh giấy nilon màu hồng được đựng trong 01 phong bì Công văn màu trắng do Công an huyện M phát hành.

Bị cáo nhất trí với bản cáo trạng của Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án thấp hơn trong mức đề nghị của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng bị cáo xin được hưởng mức án thấp hơn trong khoảng đề nghị của Viện kiểm sát.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện M, tỉnh Lai Châu- Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu- Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp.

[2] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên Tòa và trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội phù hợp với lời khai nhận tội tại cơ quan điều tra, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng, kết luận giám định về chất ma túy, các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Tòa án đã có đủ căn cứ kết luận: Vào hồi 23 giờ 10 phút ngày 05/7/2024 tại đường Đ thuộc Khu phố H, thị trấn M, huyện M, tỉnh Lai Châu, Đỗ Văn L đang có hành vi tàng trữ trái phép 1,1 gam Heroine để sử dụng cho bản thân, thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát giao thông thuộc Công an huyện M phát hiện bắt quả tang. Do đó hành vi của bị cáo Đỗ Văn L đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Hành vi nêu trên của bị cáo Đỗ Văn L là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến khách thể được pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ, đó là chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và biết rõ hành vi phạm tội của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng để thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo không những trực tiếp hủy hoại sức khỏe con người, làm suy thoái giống nòi, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia mà còn là nguyên nhân chủ yếu làm gia tăng tội phạm khác.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Nên cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Tại bản án số 27 ngày 08/12/1980 bị Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội "Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa" với thời gian thử thách 02 năm. Tại bản án số 17 ngày 16/8/1986 bị Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xử phạt 18 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản riêng công dân". Tại bản án số 83 ngày 23/10/1986 bị Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xử phạt 18 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản riêng công dân". Qua xác minh tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hưng Hà, ngày 29/10/2024 thì không có hồ sơ của người phải thi hành án Đỗ Văn L. Tính đến ngày 05/7/2024 bị cáo không bị cơ quan, tổ chức, cá nhân nào yêu cầu thi hành án. Căn cứ vào Điều 30 Luật thi hành án Dân sự, bị cáo không phải chấp hành nghĩa vụ án phí và trách nhiệm dân sự. Như vậy bị cáo đã được xóa án tích.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội và nhân thân của bị cáo về hành vi phạm tội của mình, Hội đồng xét xử xét thấy cần có một mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội đồng thời để nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân, đảm bảo công tác phòng ngừa chung cho xã hội. Do đó mức hình phạt như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là hoàn toàn phù hợp, cần chấp nhận.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo thì bị cáo nghiện ma túy, không có tài sản và không giữ chức vụ gì nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa và không đề nghị gì. Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[6] Về nguồn gốc ma túy thu giữ trong vụ án: Đỗ Văn L khai đã mua của người đàn ông dân tộc La H3, lạ mặt với giá 300.000 đồng. Tuy nhiên, ngoài lời khai duy nhất của Đỗ Văn L, không có tài liệu hay chứng cứ nào khác để điều tra, xác minh xử lý người đàn ông trên trong cùng vụ án. Hội đồng xét xử chấp nhận và không đề cập giải quyết.

[7] Đối với Phạm Văn H1: Quá trình điều tra xác định chiếc xe máy trên là xe thuộc quyền sở hữu của Phạm Văn H1, việc L sử dụng chiếc xe máy để đi mua ma túy H1 không biết. Do đó không đề nghị xem xét trách nhiệm với Phạm Văn H1, Hội đồng xét xử chấp nhận và không đề cập giải quyết.

[8] Về xử lý vật chứng: Vật chứng còn lại 01 mảnh giấy màu nâu; 01 mảnh nilon màu hồng được đựng trong 01 phong bì công văn do Công an huyện phát hành. Đây là vật không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

[9] Án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[10] Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm c khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Bị cáo được khấu trừ 09 (chín) ngày tạm giữ từ ngày 06/7/2024 đến ngày 14/7/2024. Thời hạn tù còn lại tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  3. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh giấy màu nâu; 01 mảnh nilon màu hồng được đựng trong 01 phong bì công văn do Công an huyện phát hành.
  4. (Vật chứng như biên bản giao nhận giữa Công an huyện và Chi cục Thi hành án dân sự huyện ngày 14/01/2025).

  5. Án phí HSST: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lai Châu (01);
  • - VKS ND tỉnh Lai Châu (01);
  • - VKSND huyện Mường Tè (01);
  • - Công an huyện + THAHS (02);
  • - THADS huyện (01);
  • - Bị cáo; NCQLNVLQ (02);
  • - Lưu HSVA (01);
  • - Lưu TA

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Văn Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2025/HSST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 55/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ...
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger