TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 55/2025/HS-ST Ngày 29 tháng 5 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Duy Luân
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thêu, bà Bùi Thị Hà.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huế - Thư ký TAND tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét số: 38/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 04 năm 2025 đối với các bị cáo:
Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1981. Giới tính: nam.
Nơi cư trú: thôn Đ, xã H, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Con ông Nguyễn Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị L; Có vợ là Nguyễn Thị T và 02 con sinh năm 2007 và 2011; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/6/2024, ngày 16/6/2024 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Bị cáo được trích xuất, có mặt.
Nguyễn Thị T, sinh năm 1988. Giới tính: nữ.
Nơi cư trú: thôn Đ, xã H, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Nguyễn Tiến T1 và bà Nguyễn Thị B; có chồng: là bị cáo Nguyễn Văn Đ và 02 con sinh năm 2007 và 2011; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Cómặt)
Nguyễn Văn D, sinh năm 1986. Giới tính: nam.
Nơi cư trú: thôn Đ, xã H, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Nguyễn Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, có vợ là chị Vũ Thị Ngọc Đ1 và 02 con sinh năm 2009 và 2020; Tiền án, tiền sự: không.
1
Nhân thân: Ngày 29/11/2009 bị Công an phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)
- Bị hại: 871 người có danh sách kèm theo (Ông Đỗ Văn T2 có mặt, những người bị hại khác vắng mặt).
- Người làm chứng:
Anh Vũ Kim T3, sinh năm 1989 (vắng mặt)
Trú tại: Thôn L, xã N, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc.
Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1990 (vắng mặt)
Trú tại: Thôn T, xã H, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc.
Ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1954 (vắng mặt)
Trú tại: Thôn Đ, L, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn Đ cùng vợ là Nguyễn Thị T buôn bán hạt giống, cây giống các loại tại gia đình ở thôn Đ, xã H, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc. Khoảng tháng 12/2023, Đ xem mạng facebook và thấy việc bán thóc giống có nhãn mác giống lúa VST-899 Nhật Bản được lượng khách hàng hỏi mua nhiều, giá bán cao nên nảy sinh ý định sử dụng thóc thông thường có giá trị thấp hơn, giả là thóc giống VST-899 có nguồn gốc từ Nhật Bản để bán. Đ bàn với T và em trai là Nguyễn Văn D cùng thực hiện. D dùng máy vi tính cá nhân lập trang 02 fanpage “Trung Tâm Hạt Giống Nông Nghiệp Mới”; “Hạt Giống Xuất Nhập Khẩu N” trên mạng xã hội facebook và sử dụng tài khoản facebook “Linh Kiều” của D, D cùng T quản lý trang fanpage trên. Dương tải trên mạng facebook về máy vi tính các hình ảnh nhãn mác giống lúa VST-899, hình ảnh cánh đồng lúa, quyết định công nhận đặc cách giống lúa thơm V có chữ ký mang tên Thứ trưởng Bộ N Lê Quốc D1 và dấu tròn đỏ của Bộ N. Sau đó đăng bài bán thóc giống VST-899 Nhật Bản trên 2 trang fanpage đã lập nêu trên. T liên hệ anh Vũ Kim T3, sinh năm 1989, trú tại thôn L, xã N, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc là chủ cửa hàng in ấn, gửi ảnh nhãn mác mà Dương tải về cho anh T3 để đặt in mẫu mã sản phẩm gồm các chữ tiếng Nhật và chữ “VST-899” trên nền màu xanh và hình ảnh đồng lúa màu vàng. T đánh máy và in giấy có nội dung phiếu bảo hành sản phẩm thóc giống, sau đó mua thóc tại cửa hàng thóc giống M của chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1990, trú tại thôn T, xã H, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc với giá 14.000đ/kg; mua túi zip của ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1954 ở thôn Đ, xã L, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc là người bán hàng tạp hoá. T và Đại đóng thóc vào túi zip loại 01kg và dán nhãn mác nêu trên. D sử dụng các hình ảnh túi zip chứa thóc, cánh đồng lúa, Quyết định công nhận giống lúa để đăng bài với nội dung “Giống
2
lúa VST-899 là giống lúa tẻ ngon nhất thế giới được nhập khẩu từ Nhật Bản mang đến vụ mùa bội thu, thời gian sinh trưởng ngắn từ 90 đến 100 ngày, cho sản lượng gấp hai lần lúa thường, thân to khỏe cao tầm 90cm đến 1 mét, chịu được thời tiết khắc nghiệt, đặc biệt kháng được sâu bệnh. Giá chỉ từ 69k/1kg (hạt giống); Mua từ 2kg miễn phí ship, giá 140k; Mua 5kg tặng 1kg, giá 340k (miễn ship. Hotline” 0983.03.26.32". D liên tục đăng tải nhiều lần các bài viết có nội dung tương tự để nhiều người vào mạng xã hội facebook xem được nội dung. Khi có người hỏi mua thóc giống thì T, D sử dụng điện thoại di động hoặc máy vi tính, đăng nhập vào trang fanpage, trao đổi thông tin với khách hàng và bán thóc với giá từ 49.000đ/kg đến 99.000đ/kg tuỳ vào số lượng mua, dán nhãn mác đã đặt in và gửi cho khách. T liên hệ sử dụng dịch vụ Giao hàng tiết kiệm, đăng ký bằng số điện thoại 0985.925.xxx, tên tài khoản là “HC Mobile” để quản lý và lên đơn vận chuyển các đơn hàng cho khách mua. Khách hàng sẽ thanh toán tiền cho nhân viên giao hàng, sau đó dịch vụ giao hàng sẽ chuyển khoản từ tài khoản của Giao hàng tiết kiệm số [...] Ngân hàng V1 cho Đ qua tài khoản số 2805205167351 Ngân hàng N1 và T qua tài khoản số [...] Ngân hàng Thương mại Cổ phần S. Sau khi trừ đi các chi phí, số tiền còn lại được chia cho Đ và T một nửa, D một nửa.
Ngày 20/4/2024 ông Bùi Văn T5, sinh năm 1961, trú tại thôn K, xã N, huyện V, tỉnh Thái Bình sử dụng mạng xã hội Facebook tên “Tịch B1” đặt mua thóc giống qua Fanpage “Trung Tâm Hạt Giống N” của các bị cáo và được tư vấn về giống lúa VST-899 được nhập khẩu từ Nhật Bản. Ông T5 tin tưởng nên đặt mua 13kg, được tặng thêm 03kg và đã thanh toán số tiền 900.000đồng. Ngày 28/4/2024, ông T5 tiếp tục đặt mua thêm 40kg giống lúa VST-899, được tặng thêm 10kg và đã thanh toán số tiền 2.600.000đồng. Đơn vị vận chuyển đã thanh toán cho T số tiền 3.500.000đồng qua tài khoản ngân hàng S1 số [...] mang tên Nguyễn Thị T. Sau khi nhận 02 đơn hàng, ông T5 đọc được nhiều bình luận về giống lúa VST-899 năng suất rất kém, không như người bán tư vấn nên trình báo Cơ quan Công an. Cơ quan điều tra đã khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Thị T, Nguyễn Văn D tại thôn Đ, xã H, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc, thu giữ các đồ vật liên quan đến hành vi phạm tội.
Căn cứ vào tài liệu điều tra, xác định từ ngày 06/12/2023 đến 31/5/2024, với thủ đoạn tương tự như đối với ông T5, các bị cáo Đ, T, D đã thiết lập 4771 đơn hàng thóc giống gắn nhãn mác VST-899 để bán cho 3847 người bị hại trên địa bàn 449 huyện thuộc 57 tỉnh, thành phố. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã ủy thác điều tra đến 449 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an các huyện, thị xã, thành phố nêu trên để xác minh thông tin liên quan đến nội dung mua, bán thóc giống. Kết quả uỷ thác điều tra:
3
Có 276 người không xác định được lai lịch cụ thể nên Cơ quan điều tra không tiến hành làm việc được;
Có 2700 người chưa nhận được kết quả trả lời của đơn vị nhận uỷ thác;
Có 871 người (bao gồm cả ông Bùi Văn T5) xác định đã bị Đ, T, D lừa bán thóc giống giả và bị chiếm đoạt số tiền 313.664.000đồng. Trong số 871 người bị hại, có 31 người yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền đã bỏ ra mua thóc là 207.875.000đ; những người bị hại khác không yêu cầu bồi thường
Cáo trạng số 27/CT-VKSTB ngày 10 tháng 02 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Thị T, Nguyễn Văn D về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, quy định tại điểm a, khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Thị T, Nguyễn Văn D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên các bị cáo Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Thị T, Nguyễn Văn D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Áp dung điểm a, khoản 3 Điều 174, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm b,s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ mức án từ 5 đến 6 năm tù; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D mức án từ 4 đến 5 năm tù; xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T mức án từ 3 đến 4 năm tù. Về trách nhiệm dân sự ghi nhận việc các bị cáo đã nộp đủ số tiền 207.875.000 đồng bồi thường cho bị hại, đối với số tiền 105.789.000 đồng tịch thu sung công; Về xử lý vật chứng, đề nghị tịch thu sung công 2 máy tính, 01 máy in thu giữ của Nguyễn Văn Đ, đề nghị trả lại 6 điện thoại cho các bị cáo, tịch thu tiêu huỷ 67 tờ giấy có nội dung bảo hành, 01 hộp mực đỏ, 583 túi zip, 02 bao thóc thu của bị cáo Đ, Thu
Các bị cáo không có tranh luận gì.
Các bị cáo nói lời sau cùng. Bị cáo Nguyễn Văn Đ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến điều kiện hoàn cảnh của bị cáo để cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm trở về với gia đình và xã hội và đề nghị cho vợ là bị cáo T được hưởng án treo vì vợ bị cáo đang bị bệnh và là người duy nhất đang chăm 2 con còn nhỏ, chăm mẹ già. Bị cáo Nguyễn Văn D xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo. Bị cáo Nguyễn Thị T xin được hưởng án treo vì bị cáo đang điều trị bệnh ung thư, chồng bị cáo đang bị tạm giam, chỉ mình bị cáo phải chăm sóc 2 con nhỏ và mẹ già.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:
4
[1] Về tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đối với bị cáo và tiến hành các thủ tục tố tụng khác trong vụ án, các Cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục; không ai có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì.
Tại phiên tòa vắng mặt các bị hại tuy nhiên trong hồ sơ thể hiện bị hại đã được triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng mặt. Người làm chứng vắng mặt nhưng đã có lời khai tại cơ quan điều tra nên Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung:
[2.1] Căn cứ lời khai của các bị cáo; Đơn tố giác và lời khai của bị hại là ông Bùi Văn T5 và lời khai của 870 người bị hại khác; Biên bản khám xét của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T ngày 07/6/2024 cùng các đồ vật, tài liệu đã thu giữ tại nhà các bị cáo; Nội dung tin nhắn của các bị cáo đã tư vấn về thóc giống cho ông T5 (qua trang facebook "Trung Tâm Hạt Giống N Mới”); Công văn của Cục T6, Bộ N xác nhận giống lúa VST-899 hiện nay chưa được công nhận lưu hành tại Việt Nam; Lời khai của anh Vũ Kim T3 khai nhận việc T đặt in nhãn mác thóc giống VST-899; Biên bản làm việc, danh sách mã vận đơn; Tài liệu sao kê tài khoản Ngân hàng Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Thị T; Lời khai của chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1990, trú tại thôn T, xã H, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc; ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1954 ở cùng thôn Đ, xã L, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc; Biên bản kiểm tra máy tính, điện thoại của Đ, T, D, sao các tài liệu có chữ ký xác nhận trang Fanpage và nội dung quảng cáo về giống lúa VST-899 cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 06/12/2023 đến 31/5/2024, Nguyễn Văn Đ cùng vợ là Nguyễn Thị T và em trai là Nguyễn Văn D đã sử dụng máy vi tính lập trang fanpage “Trung Tâm Hạt Giống Nông Nghiệp Mới”; “Hạt Giống Xuất Nhập Khẩu N” đăng trên mạng xã hội Facebook, đưa ra các thông tin gian dối về việc cung cấp, bán giống lúa mới của Nhật Bản có ký hiệu VST-899 để người mua tin là thật. Khi có người đặt mua loại thóc giống trên, các bị cáo sử dụng thóc thông thường có giá 14.000 đồng/1kg, đóng vào túi nilon kèm theo nhãn mác được tải trên mạng Facebook và bán với giá từ 55.000đ - 99.000đ/kg (tuỳ theo số lượng thóc của từng đơn hàng) thông qua dịch vụ Giao hàng tiết kiệm. Với thủ đoạn trên, các bị cáo đã lừa bán thóc giống giả cho 871 người bị hại trên địa bàn tỉnh Thái Bình và nhiều tỉnh, thành phố khác, chiếm đoạt tổng số tiền là 313.664.000 đồng.
Hành vi nêu trên của các bị cáo Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Thị T, Nguyễn Văn D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự .
Điều 174. Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
5
“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
...
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
...”
[2.2] Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự công cộng và an toàn xã hội. Do vậy, cần có mức hình phạt nghiêm phù hợp với tính chất mức độ, hậu quả quả của hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, có tác dụng trừng trị, răn đe, giáo dục bị cáo đồng thời góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm, phòng ngừa cho toàn xã hội.
Đánh giá vai trò của các bị cáo trong vụ án thì thấy: Các bị cáo phạm tội có tính chất đồng phạm giản đơn, bị cáo Đ thấy thóc giống có nhãn mác giống lúa VST-899 Nhật Bản được lượng khách hàng hỏi mua nhiều, giá bán cao nên nảy sinh ý định sử dụng thóc thông thường có giá trị thấp hơn, giả là thóc giống VST-899 có nguồn gốc từ Nhật Bản để bán. Đ là người rủ T và Dương cùng thực hiện. Do vậy bị cáo Đại giữ vai trò chính trong vụ án, bị cáo D quản lý trang fanpage giao dịch với bị hại, bị cáo T thuê in mẫu mã sản phẩm và mua thóc giống nên giữ vai trò giúp sức cho bị cáo Đ.
Hội đồng xét xử nhận thấy, các bị cáo đều có quan hệ gia đình vợ chồng, anh em ruột nên khi được bị cáo Đ rủ thì bị cáo D và bị cáo T đồng ý, bị cáo Đại giữ vai trò chính trong vụ án, bị cáo D có nhân thân xấu, đã bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản nên cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục riêng các bị cáo thành công dân tốt, có ích cho xã hội. Đối với bị cáo T hiện sức khoẻ yếu đang điều trị bệnh ung thư tuyến giáp, bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội với vai trò giúp sức được chồng của bị cáo phân công, các lần phạm tội đều thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú cụ thể rõ ràng, chồng bị cáo đang bị tạm giam, hiện có 2 con chưa thành niên và mẹ già cần người chăm sóc, giáo dục. Căn cứ Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về việc áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm
6
phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi bổ sung Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, thì bị cáo có đủ điều kiện để xem xét cho hưởng án treo. Hội đồng xét xử sơ thẩm xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo mà không cần thiết phải chấp hành hình phạt tù, cho bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách để bị cáo cải tạo tại địa phương, tiếp tục lao động nuôi sống bản thân và gia đình.
Xét thấy các bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, bị cáo Đ đang tạm giam, các bị cáo đều có quan hệ vợ chồng, anh em ruột nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và tự nguyện bồi thường khắc phục toàn bộ hậu quả nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, bị hại là ông Đỗ Văn T2 xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, do vậy các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự
Hội đồng xét xử thấy các bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tại phiên toà là phù hợp.
[4] Về trách nhiệm dân sự: 31 người bị hại trong vụ án yêu cầu các bị cáo bồi thường tổng số tiền . Đến nay, các bị cáo đã nộp vào Cục thi hành án dân sự số tiền 207.875.000 đồng, các bị cáo đã bồi thường xong.
Đối với số tiền 105.789.000 đồng còn lại do phạm tội mà có, cần buộc các bị cáo nộp lại sung Ngân sách nhà nước.
[5] Về xử lý vật chứng:
Do các bị cáo đã tự nộp tiền bồi thường khắc phục hậu quả nên cần trả lại số tiền và sổ tiết kiệm cho các bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị T số tiền 130.000.000 đồng; Trả cho bị cáo T 02 sổ tiết kiệm tổng trị giá 250.000.000đồng gửi tại Ngân hàng A và 01 sổ tiết kiệm trị giá 50.000.000đồng gửi tại Ngân hàng C1 mang tên Nguyễn Thị T. Tịch thu sung quỹ 02 máy tính xách tay; 01 máy in do đây là các tài sản dùng để thực hiện hành vi phạm tội; tịch thu tiêu hủy 67 tờ giấy có nội dung bảo hành; 01 hộp mực đỏ; 583 túi zip; 02 bao thóc. Trả lại cho các bị cáo 05 điện thoại di động
[6] Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
7
QUYẾT ĐỊNH:
Về tội danh:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Thị T, Nguyễn Văn D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”,
Về hình phạt:
- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 54; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 08/6/2024.
- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 54; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 17; Điều 54; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm. Giao bị cáo Nguyễn Thị T cho Ủy ban nhân xã H, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo
Về trách nhiệm dân sự:
31 người bị hại trong vụ án yêu cầu các bị cáo bồi thường tổng số tiền 207.875.000đồng. Đến nay, các bị cáo đã nộp vào Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình số tiền 207.875.000 đồng, các bị cáo đã bồi thường xong (danh sách kèm theo bản án)
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước
số tiền 105.789.000 đồng các bị cáo đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình
Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị T số tiền 130.000.000đồng; 02 sổ tiết kiệm tổng trị giá 250.000.000đồng gửi tại Ngân hàng A và 01 sổ tiết kiệm trị giá 50.000.000đồng gửi tại Ngân hàng C1 mang tên Nguyễn Thị T.
- Tịch thu sung quỹ 02 máy tính xách tay; 01 máy in.
- Tịch thu tiêu hủy 67 tờ giấy có nội dung bảo hành; 01 hộp mực đỏ; 583 túi zip; 02 bao thóc.
- Trả lại cho các bị cáo 05 điện thoại di động
8
(Đặc điểm vật chứng như theo B2 bảo giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình ngày 12/02/2025)
Về án phí:
Các bị cáo Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Thị T, Nguyễn Văn D phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Thị T, Nguyễn Văn D, B3 hại - Ông Đỗ Văn T2 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Vũ Duy Luân |
DANH SÁCH BỊ HẠI YÊU CẦU BỒI THƯỜNG
Kèm theo bản án số 55/2025/HS-ST ngày 29/5/2025
| STT | Họ Tên | Sinh năm | Xã | Huyện | Tỉnh | SĐT | Tiền đơn vị (1000₫) |
| 1 | Tẩn Mùi Cói | 1975 | Tả Phời | Tp. Lào Cai | Lào Cai | 0327778064 | 2000 |
| 2 | Nguyễn Thị Lăng | 1957 | Xương Lâm | Lạng Giang | Bắc Giang | 0964531798 | 10000 |
| 3 | Trần Hữu Hiệu | 1977 | Mỹ Thắng | Mỹ Lộc | Nam Định | 0988056606 | 4000 |
| 4 | Trần Chí Huân | 1958 | Đại Thắng | Vụ Bản | Nam Định | 0847230123 | 10000 |
| 5 | Nguyễn Thị Điền | 1970 | TT.Thanh Lãng | Bình Xuyên | Vĩnh Phúc | 0377387656 | 7000 |
| 6 | Vi Thị Vân | 1983 | Châu Hội | Quỳ Châu | Nghệ An | 0375930050 | 10000 |
| 7 | Lữ Thị Hồng Vân | 1995 | Châu Hội | Quỳ Châu | Nghệ An | 0963965417 | 12000 |
| 8 | Lữ Thị Châu | 1977 | Châu Hội | Quỳ Châu | Nghệ An | 0338334295 | 15000 |
| 9 | Lừ Thị Duyên | 1991 | Tạ Khoa | Bắc Yên | Sơn La | 0354833684 | 4000 |
| 10 | Quàng Thị Quyến | 1999 | Tạ Khoa | Bắc Yên | Sơn La | 0332441706 | 7000 |
| 11 | Hờ A Súa | 1974 | Chim Vàn | Bắc Yên | Sơn La | 0377316042 | 5000 |
| 12 | Chu Văn Ly | 1959 | Tiên Tân | TP. Phủ Lý | Hà Nam | 0345817546 | 11845 |
| 13 | Nguyễn Thị Hiền | 1965 | Lạc Vệ | Tiên Du | Bắc Ninh | 0986909764 | 140 |
| 14 | Nguyễn Thị Thúy Hà | 1994 | Lạc Vệ | Tiên Du | Bắc Ninh | 0961881309 | 140 |
| 15 | Đặng Thị Huyền | 1985 | Lạc Vệ | Tiên Du | Bắc Ninh | 0969498385 | 1020 |
| 16 | Nguyễn Thị Bắc | 1973 | Lạc Vệ | Tiên Du | Bắc Ninh | 0982815301 | 340 |
| 17 | Nguyễn Thị Thiện | 1967 | Ngọc Đồng | Yên Lập | Phú Thọ | 0776486906 | 4800 |
| 18 | Hoàng Thị Gương | 1985 | Trung Sơn | Yên Lập | Phú Thọ | 0348259030 | 4340 |
| 19 | Hà Thị Lanh | 1983 | Trung Sơn | Yên Lập | Phú Thọ | 0987685067 | 7650 |
| 20 | Đinh Thị Văn | 1995 | Trung Sơn | Yên Lập | Phú Thọ | 0374214761 | 14800 |
| 21 | Hoàng Thị Thắm | 1978 | Xuân An | Yên Lập | Phú Thọ | 0354429606 | 3000 |
| 22 | Võ Thị Xuân | 1969 | Duy Vinh | Duy Xuyên | Quảng Nam | 0969289677 | 4140 |
| 23 | Lý Thị Tâm | 1982 | Kim Phú | TP.Tuyên Quang | Tuyên Quang | 0975007581 | 3000 |
| 24 | Nguyễn Thị Hòe | 1961 | Lưỡng Vượng | TP.Tuyên Quang | Tuyên Quang | 0378081671 | 7000 |
| 25 | Phạm Văn Thắng | 1963 | Tứ Hiệp | Hạ Hòa | Phú Thọ | 0373257789 | 12000 |
| 26 | Ly Cồ Diu | 1974 | Nậm Chảy | Mường Khương | Lào Cai | 0367608394 | 8160 |
| 27 | Nguyễn Văn Hải | 1968 | Quảng Cát | TP. Thanh Hóa | Thanh Hóa | 0977932456 | 30000 |
| 28 | Dương Thị Kim Dung | 1989 | Hoàng Đan | Tam Dương | Vĩnh Phúc | 0383728897 | 3740 |
| 29 | Mạc Thị Ngọc | 1980 | Bình Chuẩn | Con Cuông | Nghệ An | 0398298201 | 560 |
| 30 | Hà Văn Hoàng | 1984 | Liêm Thủy | Na Rì | Bắc Kạn | 0866580684 | 4000 |
| 31 | Hoàng Thị Luyến | 1983 | Xuân Dương | Na Rì | Bắc Kạn | 0374933056 | 1200 |
| Tổng | 207875 | ||||||
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Vũ Duy L1 |
10
Bản án số 55/2025/HS-ST ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về hình sự sơ thẩm (tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 55/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án Đ - D -N lừa đảo
