|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 55/2025/HS-ST Ngày: 27 - 5 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dũng.
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- 1- Ông Lê Văn Vững.
- 2- Ông Đào Văn Hiến.
- - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Hứa Quang Trung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Sang - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2025, Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 41/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 38/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Hữu N. Giới tính: Nam, sinh ngày: 02/02/1993. Nơi sinh: Tiền Giang. Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: Làm thuê. Trình độ học vấn: 4/12. Cha: Nguyễn Văn P (chết). Mẹ: Trần Thị Bé B (chết). Bị cáo là con một trong gia đình. Vợ: Bùi Thị Hồng N1, sinh năm: 1995. Con: có 02 người con, sinh năm 2016 và 2017. Tiền sự, tiền án: Không. Tạm giữ: ngày 05/02/2025 đến ngày 14/02/2025 trả tự do. Tạm giam: Không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và có mặt tại phiên tòa.
Những người tham gia tố tụng khác:
- Nguyễn Văn Ú, sinh năm: 1969, là người bị hại.
- Nguyễn Trung H, sinh năm: 1985, là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- Bùi Văn N2, sinh năm: 1964, là người làm chứng.
- Bùi Văn N3, sinh năm: 1966, là người làm chứng.
- Nguyễn Văn A, sinh năm: 2004, là người làm chứng (Có mặt).
- Bùi Bảo C, sinh năm 1996, là người làm chứng.
Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Địa chỉ: Ấp C, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: Ấp C, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: Ấp C, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: Ấp C, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 03/02/2025, bị cáo Nguyễn Hữu N đi từ nhà ông Bùi Văn N2 (cha vợ N) ở ấp C, xã M, huyện T đến nhà ông Bùi Văn N3 (em ruột ông N2) ở ấp C, xã M, huyện T uống rượu cùng anh Bùi Bảo C. Trong lúc uống rượu có Bùi Văn Y (sinh ngày 10/3/2009) là người em họ của C đến chơi. Sau khi uống rượu xong, đến khoảng 21 giờ cùng ngày, N điều khiển xe mô tô biển số 63B1-578.05 rủ Y đến khu vực ruộng thuộc ấp A, xã M, huyện T tìm bu li của máy xới đất lấy trộm đem về gắn vào máy xới đất của nhà N bị hỏng thì Y đồng ý.
Đến nơi có máy xới N không lấy trộm, do có người đi thăm ruộng. Cả hai đến khu vực vườn trồng sầu riêng của ông Nguyễn Văn Ú ngụ ấp A, xã M, huyện T tìm mô tơ điện bơm nước lấy trộm bán tiêu xài. N dựng xe cặp lề đường, cả hai đi bộ vào vườn đến vị trí 02 mô tơ bơm nước (loại 3HP) đặt trong khung bê tông được cố định bằng các ốc vít. Quan sát thấy không có người trông coi, cả hai lén lút sử dụng kìm, chìa khóa 17, 22 của N mang theo tháo vặn các ốc vít của đầu hút xả được đấu nối với mô tơ và ốc vít cố định với trụ bê tông. N vác mô tơ, Y vác đầu hút xả ra cặp lề đường. N điều khiển xe chở Y đem 02 cái mô tơ đến khu vực ruộng thuộc ấp A, xã M, huyện T cất giấu vào trong 01 cái bể chứa rác thải thuốc bảo vệ thực vật. Xong, cả hai quay lại lấy 02 cái đầu hút xả, trên đường đi xe hết xăng, N dẫn xe về nhà gặp ông N2 nói xe hết xăng và hỏi ông N2 cho mượn xe mô tô biển số 67K1-083.98 để về nhà thì ông N2 đồng ý. Trên đường đi sợ có camera an ninh nên N dừng xe ở bên đường bên này sông đối diện nơi cất giấu 02 đầu hút xả, cả hai bơi qua sông lấy đầu hút xả đem qua. N tìm xung quanh lấy được một đoạn dây dù buộc vào đầu hút xả và buộc vào tay, Y lấy một đoạn dây nhựa của người dân sử dụng để giăng lưới giữ vịt ở bờ ruộng buộc vào đầu hút xả và buộc vào bụng để bơi qua sông. Do sức nặng của đầu hút xả kéo N chìm xuống không bơi được nên N bơi quay vào bờ buộc dây vào nhánh cây bạch đàn và kêu Y đứng đợi để N đi tìm can nhựa làm phao bơi qua sông thì Y đồng ý. Trong lúc N đi thì Y bơi qua sông nhưng do sức nặng của đầu hút xả buộc vào bụng kéo Y chìm xuống dưới đáy sông. Một lúc sau, N không tìm thấy can nhựa
quay lại tìm gọi Y một lúc không thấy Y trả lời, quần áo Y treo trên nhánh cây cũng không thấy. Nghĩ là Y bỏ về nhà trước, N điều khiển xe về nhà ở ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang gọi điện thoại và nhắn tin cho Y biết là N đã về nhưng không thấy Y trả lời.
Đến ngày 05/02/2024, người dân trên địa bàn ấp A, xã M phát hiện Yên chết nổi trên sông và trên bụng có buộc sợi dây gắn với đầu hút xả. Quá trình điều tra, N thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu trên và đồng thời khai ra vị trí cất giấu 02 mô tơ điện và đầu hút xả. Cơ quan Điều tra tổ chức truy tìm và thu giữ được 02 mô tơ điện cùng đầu hút xả.
Kết luận giám định tử thi số 222/KLGĐTT-KTHS ngày 18/02/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận đối với Bùi Văn Y: trong lòng khí quản có dịch bọt nước màu nâu và đất cát; hai phổi căng, xưng và xuất huyết từng mảng lớn, vỡ phế nang. Nguyên nhân tử vong do ngạt nước dẫn đến suy hô hấp cấp.
Kết luận định giá tài sản số 06/KL-HĐĐGTS ngày 11/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện T, kết luận: 01 máy bơm nước đã qua sử dụng từ năm 2021, nhãn hiệu Lepono, loại ACM220B4, công suất 3HP, đường kính hút xả 114 có giá trị 3.430.000 đồng; 01 máy bơm nước đã qua sử dụng từ năm 2021, nhãn hiệu Lucky Pro, loại AGM/6AR, công suất 3HP, đường kính hút xả 114 có giá trị 3.150.000 đồng.
Như vậy, kết quả điều tra đã chứng minh được vào ngày 03/02/2025, bị cáo N đã cùng Y thực hiện hành vi trộm 02 mô tơ điện và 02 đầu hút xả của ông Nguyễn Văn Ú. Trên đường mang mô tơ và đầu hút xả để cất giấu thì Y bị chết vì đuối nước trên sông trong lúc cùng đi trộm tài sản với N, Y đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 16 tuổi nên không đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về hành vi trộm cắp tài sản.
Về vật chứng, quá trình điều tra, Cơ quan Điều tra đã tạm giữ và xử lý:
- - 01 đoạn dây dù dài 02m và 01 đoạn dây dài 20cm; 01 đoạn dây nhựa dài 1,6m có 06 nút thắt và 01 đoạn dây dài dài 22cm, đây là những đoạn dây thu giữ trong quá trình khám nghiệm tử thi và hiện trường.
- - Của ông Nguyễn Văn Ú: 01 máy bơm nước nhãn hiệu Lepono, loại ACM220B4, công suất 3HP, đường kính hút xả 114 và 01 máy bơm nước nhãn hiệu Lucky Pro, loại AGM/6AR, công suất 3HP, đường kính hút xả 114. Xét không cần thiết tạm giữ Cơ quan điều tra đã trao trả cho ông Ú các tài sản nêu trên.
- - Của bà Bùi Thị Út Đ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen bị nứt kính màn hình. Đây là điện thoại di động của Bùi Văn Y, ngày 03/02/2025 Y đưa cho bà Đ điện thoại này cất giữ hộ và sau đó đi trộm cắp tài sản cùng với N. Hiện Cơ quan điều tra đã trao trả cho điện thoại cho bà Đ.
- - Của Nguyễn Hữu N: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A53 màu xanh và 01 xe mô tô biển số 63B1-578.05 nhãn hiệu Wave anpha màu trắng. Xe mô tô này N mua của anh Nguyễn Trung H nhưng chưa làm thủ tục chuyển quyền sở hữu. Ngày 03/02/2025, N sử dụng xe này làm phương tiện đi trộm cắp tài sản.
- - Đối với bộ T là cái áo thun màu xám ngắn tay và quần thun thể dục của Bùi Văn Y để trên bờ trước khi bơi qua sông mà Nguyễn Hữu N khai nhìn thấy. Cơ quan điều tra đã tổ chức truy tìm nhưng không tìm được.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Văn Ú đã nhận lại các tài sản bị mất trộm và không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
Quá trình điều tra vụ án, bị cáo N thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Tại Bản Cáo trạng số 41/CT-VKSTM ngày 07 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười, đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười, thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội, đã đưa ra những chứng cứ, lý lẽ kết tội đối với bị cáo. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, căn cứ nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về tội danh: Căn cứ Điều 173 của Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Về hình phạt chính:
- - Về hình phạt bổ sung, các biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 5 Điều 173; của Bộ luật Hình sự, không áp dụng đối với bị cáo N.
- - Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Văn Ú đã nhận lại các tài sản bị mất trộm và không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
- - Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Tòa án tuyên xử:
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 đoạn dây dù dài 02m và 01 đoạn dây dài 20cm; 01 đoạn dây nhựa dài 1,6m, có 06 nút thắt và 01 đoạn dây dài dài 22cm do không còn giá trị sử dụng.
- + Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước 01 xe mô tô biển số 63B1-578.05 nhãn hiệu Wave anpha màu trắng của bị cáo Nguyễn Hữu N. Đây là phương tiện N sử dụng để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
- + Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hữu N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A53 màu xanh do không liên quan đến việc phạm tội.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đề nghị hình phạt từ 09 tháng tù đến 01 năm tù.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng:
Người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; người làm chứng vắng mặt. Hội đồng xét xử, xét thấy việc vắng mặt của người bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, tiến hành xét xử vắng mặt người bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; người làm chứng.
[3] Tại phiên tòa, bị cáo N không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình được nêu tại Cáo trạng số 41/CT-VKSTM ngày 07 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười. Xét, lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung Cáo trạng và phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
[4] Bị cáo Nghĩa là người đã thành niên, có đầy đủ nhận thức hành vi của mình, biết rõ hành vi trộm cắp tài sản là xâm phạm đến tài sản hợp pháp cá nhân, tổ chức, là vi phạm pháp luật. Nhưng, vì động cơ tư lợi, xem thường pháp luật, nên bị cáo đã thực hiện hành vi trộm 01 máy bơm nước nhãn hiệu Lepono, loại ACM220B4, công suất 3HP, đường kính hút xả 114 có giá trị 3.430.000 đồng và 01 máy bơm nước nhãn hiệu Lucky Pro, loại AGM/6AR, công suất 3HP, đường kính hút xả 114 có giá trị 3.150.000 đồng, nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý, đến cùng.
[5] Ngoài ra, bị cáo còn rủ anh Bùi Văn Y cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, trong lúc di chuyển tài sản trộm được qua sông thì anh Y chết do đuối nước.
[6] Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như sau:
“
Điều 173. Tội trộm cắp tài sản
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
...”
[7] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chẳng những xâm phạm đến tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức khác mà còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự trị an tại địa phương, làm cho mọi người không yên tâm trong lao động, sản xuất. Do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử tại phiên tòa hôm nay là cần thiết, cần cách ly bị cáo một thời gian nhất định, để bị cáo có điều kiện học tập, cải tạo trở thành một công dân tốt, sống có ích cho xã hội, gia đình. Đồng thời, góp phần phòng ngừa tình hình vi pháp pháp luật trong xã hội nói chung và tại địa phương huyện T nói riêng.
[8] Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cần xem xét các tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo N phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo ăn năn hối cải được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[9] Về hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp: Do bị cáo chưa tiêu thụ tài sản, người bị hại đã nhận lại tài sản, nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[10] Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Văn Ú đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[11] Đối với Bùi văn Y (sinh ngày 10/3/2009) xác định ngày 03/02/2025, Y có tham gia thực hiện hành vi trộm cắp tài sản cùng bị cáo N. Khi thực hiện hành vi đem tài sản lấy trộm qua sông, thì Y bị chết do ngạt nước. Do đó, không đề cặp đến vấn đề xử lý trách nhiệm đối với Bùi Văn Y.
[12] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 đoạn dây dù dài 02m và 01 đoạn dây dài 20cm; 01 đoạn dây nhựa dài 1,6m, có 06 nút thắt và 01 đoạn dây dài dài 22cm do không còn giá trị sử dụng.
- - Tịch thu bán sung vào Ngân sách nhà nước 01 xe mô tô biển số 63B1-578.05 nhãn hiệu Wave anpha màu trắng của bị cáo Nguyễn Hữu N. Đây là phương tiện bị cáo N sử dụng để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
- - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hữu N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A53, do không liên quan đến việc phạm tội.
[13] Bị cáo; người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu N 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 05/02/2025 đến ngày 14/02/2025.
- Về vật chứng, biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 đoạn dây dù dài 02m và 01 đoạn dây dài 20cm; 01 đoạn dây nhựa dài 1,6m, có 06 nút thắt và 01 đoạn dây dài dài 22cm.
- - Tịch thu bán sung vào Ngân sách nhà nước 01 xe mô tô biển số 63B1-578.05 nhãn hiệu Wave anpha màu trắng của bị cáo Nguyễn Hữu N.
- - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hữu N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A53.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt, có quyền kháng cáo bản án này đến Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này đến Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Tháp Mười đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08/5/2025.
Bị cáo Nguyễn Hữu N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
||
|
Đào Văn Hiến |
Lê Văn Vững |
Nguyễn Văn Dũng |
Bản án số 55/2025/HS-ST ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 55/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TRỘM CẮP
