Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH LIÊM

TỈNH HÀ NAM

Bản án số: 55/2025/HS-ST

Ngày 26 tháng 6 tháng 2025.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH LIÊM, TỈNH HÀ NAM

***

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Quách Xuân Luyện - Giáo viên nghỉ hưu bà bà Lê Thị Hà - Cán bộ hưu trí (Nguyên Chủ tịch Hội liên hiệp Phụ nữ huyện Thanh Liêm).

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Vân Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Ông Từ Văn Tiền - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 48/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 56/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn K, sinh năm 1992; nơi cư trú: Thôn M, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Q và bà Trần Thị K1; có vợ là Đặng Thị Thanh N và có 02 con: Con lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2018; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 17/02/2025, Công an huyện T, tỉnh Hà Nam ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt 275.000 đồng về hành vi “Mua các số lô, số đề”; nhân thân: Ngày 01/02/2015, Công an phường T, thành phố P, tỉnh Hà Nam ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt 350.000 đồng về hành vi “Mua số lô, số đề”; ngày 19/12/2015, Công an huyện T, tỉnh Hà Nam ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; ngày 02/02/2016, Công an huyện T, tỉnh Hà Nam ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; ngày 23/8/2016, Công an huyện T, tỉnh Hà Nam ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; ngày 23/12/2016, Công an huyện T, tỉnh Hà Nam ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; ngày 24/12/2019, Công an phường H, thành phố P, tỉnh Hà Nam ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”; ngày 20/01/2020, Công an huyện T, tỉnh Hà Nam ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”; ngày 25/3/2020, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý - Công an tỉnh H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt Cảnh cáo về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”; ngày 26/3/2020, Công an huyện T, tỉnh Hà Nam ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”; ngày 11/9/2020, Toà án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xử phạt 02 năm 6 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, (chấp hành xong bản án ngày 22/9/2022); ngày 02/02/2024, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý - Công an tỉnh H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt Cảnh cáo về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 05/4/2025, chuyển tạm giam ngày 11/4/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh H; có mặt.

2. Bùi Đức H, sinh năm 1980; nơi cư trú: Thôn M, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Đức K2 (đã chết) và bà Trần Thị N1; có vợ là Trần Thị M và có 03 con: Con lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 17/02/2025, Công an huyện T, tỉnh Hà Nam ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt 275.000 đồng về hành vi “Mua số lô, số đề”; nhân thân: Ngày 20/9/2014, Công an huyện T, tỉnh Hà Nam ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; ngày 01/12/2014, Công an phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”; ngày 19/01/2015, Công an huyện T, tỉnh Hà Nam ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 05/4/2025, chuyển tạm giam ngày 11/4/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh H; có mặt.

- Bị hại: Bà Lê Thị X, sinh năm 1932 và ông Bùi Văn Đ, sinh năm 1941; cùng nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam. Ông Đ ủy quyền cho bà X tham gia tố tụng; bà X có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1990; nơi cư trú: Đ, thôn M, xã P, huyện Ý, tỉnh Nam Định; vắng mặt.

+ Chị Trần Thị M, sinh năm 1980; nơi cư trú: Thôn M, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; có mặt.

- Người làm chứng: Cháu Bùi Minh C, sinh năm 2008; người đại diện hợp pháp của cháu C là ông Bùi Văn T, sinh năm 1977; đều có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

2

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 04/4/2025, Nguyễn Văn K đi đến nhà Bùi Đức H trú cùng thôn chơi. Sau đó, K rủ H xuống nhà anh Trần Văn H1, sinh năm 1990, trú tại thôn T, xã T, huyện T chơi thì H đồng ý. H điều khiển xe mô tô không đeo BKS chở K đến thôn Đ, xã T, huyện T để tìm nhà anh H1. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, do không nhớ chính xác vị trí nhà anh H1 nên H dừng xe ở đầu ngõ đợi còn K đi bộ vào nhà bà Lê Thị X ở thôn Đ, xã T. Khi đi vào gian phòng khách nhà bà X thấy cháu Bùi Minh C (cháu nội bà X) đang ngồi trên giường, K hỏi “Bố có nhà không?”, cháu C gọi “Bà ơi” thì bà X từ trong phòng ngủ đi ra, K giới thiệu mình là bạn của H1. Quá trình nói chuyện với bà X thì K biết mình đã vào nhầm nhà, không phải nhà anh H1, lúc này K nhìn thấy trên cổ bà X đeo 01 sợi dây chuyền bằng vàng nên nảy sinh ý định chiếm đoạt sợi dây chuyền để bán lấy tiền tiêu xài. Sau đó, K đi bộ ra ngoài đầu ngõ nói với H “Bà kia có sợi dây chuyền anh ạ. Anh đứng đây em vào giật sợi dây chuyền xong em ra rồi anh em mình đi” (H hiểu ý K nói với H đợi ở ngoài cảnh giới, nổ máy xe sẵn còn K vào giật sợi dây chuyền vàng của bà X đi ra sẽ bỏ chạy) thì H đồng ý nên bảo lại với K “Ừ em vào đi”. K quay lại nhà bà X nói chuyện về việc nhầm nhà để tìm cơ hội giật sợi dây chuyền, khi nói chuyện với bà X ở ngoài đầu hè, K dùng tay phải giật sợi dây chuyền vàng trên cổ bà X rồi bỏ chạy. Do giật mạnh nên sợi dây chuyền bị đứt thành 02 đoạn, K chỉ cầm được 01 đoạn của sợi dây chuyền rồi bỏ chạy ra chỗ Hoằng đang đợi, nhảy lên xe mô tô nói với H “Chạy đi”, H điều khiển xe mô tô chở K bỏ chạy đến cửa hàng V1 ở Đ, thôn M, xã P, huyện Ý, tỉnh Nam Định để bán. K đi vào trong cửa hàng bán đoạn dây chuyền vàng cho chị Nguyễn Thị V là chủ cửa hàng được 12.153.000 đồng. K chia cho H 4.000.000 đồng, còn lại 8.153.000 đồng K giữ lại và tiêu xài cá nhân.

Vật chứng, đồ vật, tài sản đã thu giữ gồm:

  • Thu của Bùi Đức H: số tiền 1.230.000 đồng; 01 xe mô tô đeo BKS 90A1 - 081.56 có số máy: JC52E-4011395, số khung: RLHJC521XCY008854.
  • Thu của Nguyễn Văn K: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu hồng.
  • 01 đoạn dây chuyền kim loại màu vàng dài 28cm, rộng 0,4cm và 01 mặt dây chuyền kích thước (3,8x2,2)cm có viền kim loại màu vàng, ở giữa đính 01 viên đá màu xanh; 01 giấy đảm bảo vàng do bà Lê Thị X giao nộp.
  • Trích xuất sao lưu dữ liệu camera Của cửa hàng V1 trong 01 đĩa DVD; dữ liệu camera tại nhà bà Lê Thị X trong 01 USB.
  • Số tiền 2.770.000 đồng do chị Trần Thị M, sinh năm 1980, trú tại thôn M, xã T, huyện T (vợ Bùi Đức H) giao nộp.

3

Ngày 05/4/2025, Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh H thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn K, Bùi Đức H ở thôn M, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan.

Ngày 17/4/2025, Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh H ra Quyết định trưng cầu Viện khoa học hình sự - Bộ C1 giám định đối với 01 mặt dây chuyền và 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng đã thu giữ. Tại bản Kết luận giám định số 3257/KL-KTHS ngày 25/4/2025 của V2 - Bộ C1 kết luận:

  • “ - 01 mặt dây chuyền bằng kim loại màu vàng có móc treo, ở giữa mặt gắn 01 viên vật liệu màu xanh hình bầu dục có tổng khối lượng 6,71 gam (tính cả khối lượng viên vật liệu). Phần kim loại màu vàng đều là vàng (Au), hàm lượng Au trung bình 99,80%.
  • - 01 dây chuyền bằng kim loại màu vàng có móc khoá đã bị đứt, chế tác dạng các mắt xích nối với nhau có tổng khối lượng 6,25 gam đều là vàng (A), hàm lượng Au trung bình 99,75%".

Ngày 25/4/2025, cơ quan CSĐT - Công an tỉnh H ra Quyết định trưng cầu Phòng K3 - Công an tỉnh H giám định số khung, số máy của xe mô tô, số máy: JC52E-4011395, số khung: RLHJC521XCY008854. Tại bản Kết luận giám định số 256/KL-KTHS ngày 29/4/2025 của Phòng K3 - Công an tỉnh H kết luận: “Xe mô tô gửi giám định có số khung nguyên thuỷ: RLHJC521XCY008854; số máy nguyên thuỷ: JC52E-4011395".

Ngày 06/5/2025, Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh H ra văn bản yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T định giá đối với 01 sợi dây chuyền chế tác dạng các mắt xích nối với nhau, có mặt dây chuyền ở giữa gắn 01 viên vật liệu màu xanh hình bầu dục có móc treo, có trọng lượng 4 chỉ bằng vàng 9999 tại thời điểm ngày 04/4/2025. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 07/KL-HĐĐGTS ngày 08/5/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: “Giá trị 01 dây chuyền chế tác dạng các mắt xích nối với nhau, có mặt dây chuyền ở giữa gắn 01 viên vật liệu màu xanh hình bầu dục có móc treo, có trọng lượng 4 chỉ bằng vàng 9999 tại thời điểm ngày 04/4/2025 là 40.216.000 đồng”.

Về trách nhiệm dân sự: Tại giai đoạn điều tra, bà Lê Thị X yêu cầu Nguyễn Văn K, Bùi Đức H bồi thường thiệt hại tài sản với số tiền 12.000.000 đồng. Bùi Đức H đã nộp số tiền được hưởng lợi 4.000.000 đồng để bồi thường cho bà X, còn lại 8.000.000 đồng Nguyễn Văn K chưa bồi thường cho bà X.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử gia đình bị cáo Nguyễn Văn K đã gặp gỡ, trao đổi và bồi thường số tiền 8.000.000 đồng bị cáo K chiếm hưởng. Bà X đã nhận tiền và không có ý kiến yêu cầu gì khác, xin giảm nhẹ hình phạt cho hai bị cáo.

* Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo

4

Nguyễn Văn K và Bùi Đức H phạm tội “Cướp giật tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52 Điều 17, Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với cả 2 bị cáo Nguyễn Văn K và Bùi Đức H: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K từ 39 đến 42 tháng tù; Bùi Đức H từ 33 đến 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ (05/4/2025); hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Buộc các bị cáo phải bồi thường cho bà X 12.000.000 đồng. Ghi nhận việc bị cáo H đã nộp 4.000.000 đồng tại giai đoạn điều tra, bị cáo K đã bồi thường 8.000.000 đồng trước khi xét xử để bồi thường cho bà X. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Waves, màu đen, đeo biển kiểm soát: 90A1-081.56 và 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu hồng, có số IMEI: 359215076800003.

- Các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đã thực hiện đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm đã truy tố; các bị cáo không tranh luận gì, lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Người bị hại bà Lê Thị X có quan điểm: Quá trình thẩm vấn xác định bị cáo H đã nộp số tiền 4.000.000 đồng để bồi thường khắc phục tại Cơ quan điều tra nên Bà X đồng ý để sau này thi hành án sẽ nhận lại. Trước khi xét xử đại diện gia đình bị cáo K đã gặp và bồi thường số tiền 8.000.000 đồng nay bà X không đề nghị, yêu cầu gì vấn đề dân sự nữa, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho cả 2 bị cáo Nguyễn Văn K và Bùi Đức H.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Trần Thị M nhất trí quan điểm đại diện Viện kiểm sát đã trình bày và không có ý kiến tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai, ý kiến của chị V, Cơ quan điều tra đã tiến hành lấy lời khai ghi ý kiến theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Xét thấy, việc vắng mặt của chị V không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử

5

vụ án theo thủ tục chung. Xét thấy tại phiên toà chị Trần Thị M, sinh năm 1980; nơi cư trú: Thôn M, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam là vợ bị cáo H có mặt tại phiên toà. Hội đồng xét xử đã kiểm tra lý lịch; chị Minh xác N2 tham gia phiên toà để trình bày các vấn đề liên quan. Do đó, Hội đồng xét xử thảo luận, tiến hành bổ sung người tham gia tố tụng là chị M với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

[2] Về tội danh: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, Nguyễn Văn K và Bùi Đức H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như trong nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận của các bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với Biên bản và sơ đồ hiện trường, Biên bản tiếp nhận nguồn tin, ảnh vật chứng, các vật chứng đã thu giữ, bản Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đủ cơ sở để xác định: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 04/4/2025, tại nhà của bà Lê Thị X ở thôn Đ, xã T, huyện T, khi thấy bà X đeo 01 sợi dây chuyền bằng vàng 9999 có giá trị 40.216.000 đồng, Nguyễn Văn K đã nảy sinh ý định chiếm đoạt sợi dây chuyền này, K đã thống nhất với Bùi Đức H để H đứng cảnh giới ở khu vực đường phía trước nhà bà X. Sau đó K quay lại nhà bà X, lợi dụng sự sơ hở của bà X, K dùng tay phải giật mạnh sợi dây chuyền vàng đang đeo trên cổ bà X làm sợi dây chuyền đứt làm 02 đoạn, K cầm theo 01 đoạn có trọng lượng 1,32 chỉ bỏ chạy đến chỗ H đang đợi, lên xe mô tô để H điều khiển xe bỏ chạy mang đoạn dây chuyền vừa chiếm đoạt được đến Cửa hàng vàng bạc Kim T1 bán cho chị Nguyễn Thị V được 12.153.000 đồng, K chia cho H 4.000.000 đồng và giữ lại 8.153.000 đồng để tiêu xài cá nhân.

Hành vi nêu trên của của các bị cáo Nguyễn Văn K và Bùi Đức H đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tương ứng tại khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự;

Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm truy tố đối với Bùi Đức H và Nguyễn Văn K là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét vị trí vai trò của các bị cáo:

Vụ án có 2 đối tượng tham gia cùng thực hiện hành vi phạm tội, nên xác định là vụ án có đồng phạm. Trong vụ án này, Nguyễn Văn K là người khởi xướng, trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội nên giữ vai trò thứ nhất, Bùi Đức H giúp sức tích cực đồng phạm và giữ vai trò thứ hai trong vụ án.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

- Về nhân thân: Các bị cáo Nguyễn Văn K và Bùi Đức H đều có tiền sự trước khi thực hiện hành vi phạm tội này. Ngày 17/02/2025, Công an huyện T, tỉnh Hà Nam ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt 275.000 đồng về hành vi “Mua các số lô, số đề”. Các bị cáo đều có nhân thân rất xấu đã bị xử phạt hành chính nhiều lần về các hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” và “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Bị cáo K đã bị kết án về tội “Tàng trữ trái

6

phép chất ma túy”, nhưng các bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân trở thành người có ích cho xã hội, mà lại tiếp tục phạm tội, thể hiện sự coi thường pháp luật.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Văn K và Bùi Đức H đã thực hiện hành vi phạm tội đối với bị hại là người đủ 70 tuổi trở lên (bà Lê Thị X sinh năm 1932) nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, các bị cáo Nguyễn Văn K và Bùi Đức H đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo đã nộp và bồi thường cho người bị hại số tiền đã chiếm hưởng; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên cả 2 bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo K có tham gia quân đội tại đơn vị: Đại đội 10 - Tiểu đoàn 3 - Trung đoàn 141 - Sư đoàn C2 - Quân đoàn 1, đóng quân ở S, Thành phố Hà Nội (Gia đình bị cáo xuất trình tài liệu tại phiên toà) nên bị cáo K được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, trật tự an toàn xã hội, gây tâm lý hoang mang, lo sợ cho những người dân. Bản thân bị cáo Nguyễn Văn K và Bùi Đức H có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, thể hiện rõ thái độ coi thường pháp luật. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng; xét vị trí vai trò của các bị cáo trong vụ án thấy bị cáo K có vai trò đầu vụ, là người khởi xướng để H cùng thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu hình phạt nghiêm khắc hơn so với H.

- Hình phạt bổ sung: Xét thấy, các bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định; nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bà Lê Thị X yêu cầu Nguyễn Văn K, Bùi Đức H bồi thường thiệt hại tài sản với số tiền 12.000.000 đồng. Bùi Đức H đã nộp số tiền 4.000.000 đồng tại giai đoạn điều tra để bồi thường cho bà X. Do đó: Ghi nhận việc bị cáo đã nộp số tiền bồi thường khắc phục cho bị hại tại Cơ quan điều tra, số tiền này sẽ được đối trừ khi thi hành án. Gia đình bị cáo Nguyễn Văn K

7

đã bồi thường số tiền 8.000.000 đồng bị cáo đã chiếm hưởng khi bán số vàng chiếm đoạt của bà X, bà X đã nhận tiền và không đề nghị, yêu cầu gì thêm.

[7] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu hồng đã thu giữ là tài sản do Nguyễn Văn K sử dụng tiền phạm tội để mua và 01 xe mô tô đeo BKS 90A1-081.56, có số máy: JC52E-4011395, số khung: RLHJC521XCY008854 đã thu giữ là tài sản hợp pháp của Bùi Đức H sử dụng vào việc phạm tội, nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

- Đối với số tiền 4.000.000 đồng gồm 1.230.000 đồng là số tiền còn lại mà Bùi Đức H được hưởng lợi từ hành vi phạm tội và 2.770.000 đồng do chị Trần Thị M (là vợ của H) nộp để bồi thường thiệt hại thay cho H, cần trả lại cho bà Lê Thị X.

- Tài liệu điều tra xác định 01 mặt dây chuyền kích thước (3,8 x 2,2)cm, bằng vàng, giữa có gắn viên vật liệu màu xanh và 01 sợi dây chuyền dạng mắt xích đã bị đứt bằng vàng có chiều dài 28cm, rộng 0,4cm và 01 giấy đảm bảo vàng là tài sản hợp pháp của bà Lê Thị X và ông Bùi Văn Đ (chồng bà X). Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh H đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bà Lê Thị X (người được ông Đ ủy quyền) là đúng pháp luật.

- Đối với 01 đĩa DVD lưu trữ video tại Cửa hàng V1 và 01 USB lưu trữ video tại nhà bà Lê Thị X là chứng cứ, chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo, nên cần được lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

[8] Các vấn đề khác: Đối với chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1990, là chủ cửa hàng vàng bạc Kim T1, khi mua đoạn dây chuyền mà K mang đến bán thì chị V không biết đó là tài sản do phạm tội mà có. Vì vậy, không xem xét, xử lý đối với chị Nguyễn Thị V về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Sau khi mua đoạn dây chuyền, chị V đã mang nung chảy, chế tác lại do vậy không có căn cứ để thu hồi theo quy định.

[9] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn K và Bùi Đức H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 38; các điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự đối với cả 2 bị cáo Nguyễn Văn K và Bùi Đức H; các điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, 292, 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng

8

hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hình sự: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn K và Bùi Đức H phạm tội “Cướp giật tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt.

- Bị cáo Nguyễn Văn K 39 (Ba mươi chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (05/4/2025).

- Bị cáo Bùi Đức H 33 (Ba mươi ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (05/4/2025).

- Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo Nguyễn Văn K và Bùi Đức H.

3. Về trách nhiệm dân sự:

Buộc bị cáo Nguyễn Văn K phải bồi thường cho bà Lê Thị X số tiền 8.000.000 đồng (tám triệu đồng); Ghi nhận việc bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại. Buộc bị cáo Bùi Đức H phải bồi thường cho bà Lê Thị X số tiền 4.000.000 đồng. Số tiền 4.000.000 đồng bị cáo và chị Trần Thị M (Vợ bị cáo) đã nộp tại Cơ quan điều tra được đối trừ khi thi hành án.

4. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Waves, màu đen, đeo biển kiểm soát: 90A1-081.56, có số máy: JC52E-4011395, số khung: RLHJC521XCY008854, đã qua sử dụng thiếu 1 gương bên phải và 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu hồng, có số IMEI: 359215076800003.

Tịch thu tiêu huỷ 01 sim V3 có số seri: 8984048000384516960, lắp trong chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 Plus thu giữ của Nguyễn Văn K do không còn giá trị sử dụng;

- Trả lại cho bà Lê Thị X số tiền 4.000.000 đồng gồm 1.230.000 đồng là số tiền còn lại mà Bùi Đức H được hưởng lợi từ hành vi phạm tội và 2.770.000 đồng do chị Trần Thị M (là vợ của H) nộp để bồi thường thiệt hại thay cho H.

(Tình trạng vật chứng như trong Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 18/6/2025 giữa Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh H với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Liêm và Ủy nhiệm chi số 709 ngày 17/6/2025, tại Phòng G - Kho bạc Nhà nước khu vực IV).

- Lưu kèm hồ sơ vụ án, 01 đĩa DVD lưu trữ video tại cửa hàng V1 và 01 USB lưu trữ video tại nhà bà Lê Thị X.

5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Nguyễn Văn K và Bùi Đức H, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành

9

án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

6. Quyền kháng cáo đối với bản án: Các bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - TAND tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND huyện Thanh Liêm;
  • - Sở tư pháp tỉnh Hà Nam;
  • - Chi cục THADS huyện Thanh Liêm;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hà Nam;
  • - Phòng Cảnh sát THAHS và HTTP Công an tỉnh Hà Nam;
  • - Cổng Thông tin điện tử của Tòa án;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
  • - UBND xã Thanh Hà, huyện Thanh Liêm;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Vũ Văn Thanh

10

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2025/HS-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH LIÊM, TỈNH HÀ NAM về cướp giật tài sản

  • Số bản án: 55/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH LIÊM, TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 04/4/2025, tại nhà của bà Lê Thị X ở thôn Đ, xã T, huyện T, khi thấy bà X đeo 01 sợi dây chuyền bằng vàng 9999 có giá trị 40.216.000 đồng, Nguyễn Văn K đã nảy sinh ý định chiếm đoạt sợi dây chuyền này, K đã thống nhất với Bùi Đức H để H đứng cảnh giới ở khu vực đường phía trước nhà bà X. Sau đó K quay lại nhà bà X, lợi dụng sự sơ hở của bà X, K dùng tay phải giật mạnh sợi dây chuyền vàng đang đeo trên cổ bà X làm sợi dây chuyền đứt làm 02 đoạn, K cầm theo 01 đoạn có trọng lượng 1,32 chỉ bỏ chạy đến chỗ H đang đợi, lên xe mô tô để H điều khiển xe bỏ chạy mang đoạn dây chuyền vừa chiếm đoạt được đến Cửa hàng vàng bạc Kim T1 bán cho chị Nguyễn Thị V được 12.153.000 đồng, K chia cho H 4.000.000 đồng và giữ lại 8.153.000 đồng để tiêu xài cá nhân.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger