Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 55/2025/HS-ST

Ngày 25 tháng 6 năm 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Đức.

Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Trọng Điền và ông Nguyễn Thanh Trang;

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân

thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang

tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Hải, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 42/2025/HS-ST ngày 06 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Hoàng Song T, sinh ngày 01/01/1997; nơi sinh: thành phố C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Tổ C, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Đạo phật; trình độ học vấn: Lớp 8/12; nghề nghiệp: Không; con ông Nguyễn Huỳnh Châu T1, sinh năm 1977 bà Trần Thị H, sinh năm 1975; chồng Nguyễn Văn E, sinh năm 1992; có 03 người con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo Trang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, từ ngày 28/9/2024 cho đến nay.

2. Nguyễn Thị Ngọc M, sinh ngày 01/9/1999; nơi sinh: huyện A, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Tổ C, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Đạo phật; trình độ học vấn: Lớp 7/12; nghề nghiệp: không; con Nguyễn Huỳnh Châu T1, sinh năm 1977 bà Trần Thị H, sinh năm 1975; chồng Lê Văn C, sinh năm 1989; có 02 người con, lớn sinh năm 2020, nhỏ sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo Trang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, từ ngày 03/12/2024 cho đến nay.

2

3. Trịnh Thị Đ, sinh ngày 03/6/1986; nơi sinh: thành phố C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Tổ C, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: D, khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Đạo phật; trình độ học vấn: Lớp 7/12; nghề nghiệp: không; con ông Trịnh Minh T2 (đã chết) và con bà Lê Thị L, sinh năm 1956; anh chị em có 06 người, bị cáo là người thứ hai; tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo Trang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11/02/2025 cho đến nay.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Trần Thị T3, sinh năm 1964; nơi cư trú: Tổ C, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, vắng mặt.
  • - Tống Thị Bích N, sinh năm 1988; nơi cư trú: Ấp P, xã Đ, huyện A, tỉnh An Giang, vắng mặt.
  • - Trần Thị Ngọc ẨÂ, sinh năm 1955; nơi cư trú: Tổ D, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, vắng mặt.
  • - Trần Thị X, sinh năm 1969; nơi cư trú: Tổ C, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, vắng mặt.
  • - Võ Thị P, sinh năm 1958; nơi cư trú: Tổ E, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, vắng mặt.
  • - Nguyễn Văn Đat R, sinh năm 1972; nơi cư trú: Tổ C, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, vắng mặt.
  • - Nguyễn Văn E, sinh năm 1992; nơi cư trú: Tổ C, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang.

Người làm chứng: Nguyễn Minh H1, sinh năm 1991, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 27/7/2024, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tại phòng trọ số 202 nhà trọ “Khương Vy” thuộc tổ C, khóm C, phường C, thành phố C, có đối tượng thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề được thua bằng tiền. Sau khi tiếp nhận, lực lượng Đ2, Công an thành phố C kết hợp với Công an phường C, tiến hành đến địa điểm trên kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Nguyễn Hoàng Song T đang ngồi tổng hợp phơi đề bán được trong ngày 27/7/2024 đài L2; thu giữ 15 phơi đề với tổng số tiền 19.459.000đồng; 06 cấy viết mực màu xanh; 01 điện thoại di động hiệu OPPO A98, màu đen; tiền Việt Nam 15.020.000đồng và nhiều vật dụng dùng để đánh bạc;

Quá trình điều tra, bị cáo T khai: Từ tháng 5/2024 cho đến ngày bị bắt quả tang 27/7/2024, Nguyễn Hoàng Song T có hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số

3

lô, số đề được thua bằng tiền, mỗi ngày mở thưởng đài Miền Nam gồm các đài An Giang; Long An; K; Cần Thơ; Đồng Tháp; Bạc Liêu, bằng hình thức bán trực tiếp hoặc thông tin nhắn SMS trên điện thoại di động và qua mạng xã hội Zalo tên “Trang N1” mạng xã hội Facebook qua ứng dụng Messenger tên “Song Nguyen" của T cho nhiều người tham gia đánh bạc trên địa bàn thành phố C, rồi tổng hợp các phơi đề lại chuyển cho người phụ nữ tên L1 (không rõ lai lịch cụ thể) nhà ở thị trấn Đ huyện A, tỉnh An Giang thông qua Zalo tên “@ ” của L1 để được hưởng tiền huê hồng. Từ cuối tháng 6/2024, T kêu Nguyễn Thị Ngọc M (em ruột của T) phụ bán tiếp số lô, số đề cho T, mỗi ngày T trả công cho M từ 50.000đồng đến 70.000đồng. Tỷ lệ thắng thua: Đối với số A, B, lô 02 chữ số 1.000đồng thắng 80.000đồng; đối với lô A, B, lô 03 chữ số 1.000đồng thắng 800.000đồng; số đá 1.000đồng thắng 700.000đồng. Hình thức thanh toán tiền: Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết các đài Miền Nam; Miền Bắc; các bị cáo và những người tham gia đánh bạc thống số tiền thắng, thua xong sẽ thanh toán trực tiếp trả tiền mặt. Từ khoảng tháng 5/2025 đến ngày 27/7/2024, Nguyễn Hoàng Song T; Nguyễn Thị Ngọc M1 đã tham gia đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề cùng với Trịnh Thị Đ; Trần Thị T3; Trần Thị X; Nguyễn Văn Đat R; Tống Thị Bích N; Trần Thị Ngọc Ẩ; Võ Thị P và nhiều người khác (không rõ lai lịch), cụ thể:

- Hành vi đánh bạc của T: Từ khoảng tháng 5/2024 đến 27/7/2024, Nguyễn Hoàng Song T trực tiếp bán số lô, số đề hoặc thông qua tin nhắn SMS trên điện thoại di động và qua mạng xã hội Zalo tên “Trang N1” mạng xã hội Facebook qua ứng dụng Messenger tên “Song Nguyen” của T cho nhiều người tham gia trên địa bàn C, rồi tổng hợp các phơi đề lại chuyển cho người phụ nữ tên L1 (không rõ lai lịch cụ thể) nhà ở thị trấn Đ huyện A, tỉnh An Giang thông qua Zalo tên “@ “ của L1 để được hưởng tiền huê hồng. Ngày 27/7/2024 bị cáo T đã ghi bán số lô, số đề cho Trịnh Thị Đ với số tiền 7.440.000đồng, Trần Thị X với số tiền 45.000đồng; Trần Thị T3 với số tiền 35.000đồng; Nguyễn Văn Đat R với số tiền 30.000đồng; Tống Thị Bích N với số tiền 31.500đồng và một số người khác không rõ lai lịch với tổng số tiền 17.753.500đồng và nhận phơi đề của M bán tiếp với số tiền 1.705.500đồng. Tổng số tiền đánh bạc ngày 27/7/2024 là 19.459.000đồng. Từ khi tham gia đánh bạc cho đến ngày bị bắt T hương lợi 18.000.000đồng.

- Hành vi đánh bạc của M: Từ cuối tháng 6/2/24, Nguyễn Thị Ngọc M (em ruột của T) phụ bán tiếp số lô, số đề cho T; bị cáo M đi bán số lô, số đề trực tiếp cho những người chơi quanh khu vực xóm nhà của M với số tiền mỗi ngày khoảng 1.000.000 đồng đến dưới 2.000.000đồng. Sau đó, đến khoảng 15 giờ hằng ngày Mai đem phơi đề và tiền bán được giao lại cho T; M được trả tiền công mỗi ngày từ 50.000đồng đến 70.000đồng. Ngày 27/7/2024, M ghi bán số lô, số đề cho Võ Thị P với số tiền 60.000đồng; Trần Thị Ngọc Ầ với số tiền 10.000đồng và một số người khác không rõ lai lịch với tổng số tiền 1.705.500đồng. Từ khi tham gia đánh bạc cho đến ngày bị bắt, M hưởng lợi 2.000.000đồng;

4

- Hành vi đánh bạc của Trịnh Thị Đ: Ngày 27/7/2024, Đ nhắn tin qua mạng xã hội Zalo cho Nguyễn Hoàng Song T mua số lô, số đề đài Long An với số tiền 7.440.00đồng;

Kết luận giám định số 1237/KL-KTHS ngày 20/9/2024 của Phòng K - Công an tỉnh A ghi nhận: Chữ viết trên 09 tài liệu cần giám định (ký hiệu A1 đến A9) so với chữ viết mang tên Nguyễn Hoàng Song T trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu M) do cùng một người viết ra;

Kết luận giám định số 1287/KL-KTHS ngày 23/9/2024 của Phòng K - Công an tỉnh A ghi nhận: Tìm thấy giữ dữ liệu lưu trữ trong 03 điện thoại di động (ký hiệu A1; A2; A3) do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C gửi giám định, chi tiết thể hiện trong 01 đĩa DVD dữ liệu trích xuất kèm theo. Kèm theo kết luận giám định: 01 đĩa DVD nhãn hiệu RISHENG, có tổng dung lượng 1,95GB;

Kết luận giám định số 1238/KL-KTHS ngày 26/9/2024 của Phòng K - Công an tỉnh A ghi nhận: Chữ viết trên 06 tài liệu cần giám định (ký hiệu A1 đến A6) so với chữ viết mang tên Nguyễn Hoàng Song T trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu M) do cùng một người viết ra; (Bút lụt 21; 93-94; 100 và bút lụt 101);

Tại Cáo trạng số 48/CT-VKCĐ ngày 06/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố Nguyễn Hoàng Song T; Nguyễn Thị Ngọc M; Trịnh Thị Đ về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

Chủ tọa công bố lời khai người liên quan; người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa và các kết luận giám định số 1237/KL-KTHS ngày 20/9/2024; kết luận giám định số 1287/KL-KTHS ngày 23/9/2024 và kết luận giám định số 1238/KL-KTHS ngày 26/9/2024 của Phòng K - Công an tỉnh A;

Các bị cáo T; M; Đ khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu; bị cáo T, M thống nhất kết luận giám định; các bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ và hình phạt được tại ngoại để có điều kiện chăm sóc gia đình.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Nguyễn Hoàng Song T; Nguyễn Thị Ngọc M; Trịnh Thị Đ như Cáo trạng đã nêu. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo: Nguyễn Hoàng Song T từ 09 (chín) tháng đến 01( một) tù;

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo: Nguyễn Thị Ngọc M từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù;

5

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo: Trịnh Thị Đ từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, đề nghị không áp dụng;

Về biện pháp tư pháp: Đề nghị áp dụng Điều 46, 47 BLHS: Buộc bị cáo T giao nộp lại số tiền 18.000.000 đồng; bị cáo M giao nộp lại số tiền 2.000.000 đồng là số tiền thu lợi bất chính.

Áp dụng các Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đề nghị:

Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 15 tờ phơi đề đã bán được vào ngày 27/7/2024 và 01 đĩa DVD.

Tịch thu tiêu hủy 06 cây viết mực màu xanh; 06 tờ giấy can màu xanh; 01 máy tính màu hồng (không có nhãn hiệu); 06 quyển sổ màu đen, kích thước (75 × 13) cm; đều đã qua sử dụng là các vật dùng dùng để đánh bạc, không còn giá trị sử dụng.

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 03 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A98, màu đen; Redmi 12, màu bạc; Xiaomi ReDmi 12, màu xanh; tiền Việt Nam 9.805.000 đồng là các công cụ sử dụng vào việc phạm tội.

Trả lại cho bị cáo M 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO F11 Pro, màu tím, Ram 06RB, bộ nhớ điện thoại 128GB, kiểu máy; CPH1969, số sê ri: N78P4TPFBEJ76D4D, Số IMEI 1: 863980046353172, Số IMEI 2: 863980046353164, gắn 01 sim có dãy số 8984048000046791550; đã qua sử dụng, màn hình bị nứt.

Trả lại số tiền 5.400.000 đồng cho Nguyễn Văn E.

Đề nghị Quyết định về án phí; quyền kháng cáo ;

Các vấn đề khác: Việc Nguyễn Hoàng Song T và Nguyễn Thị Ngọc M khai nhận đã thực hiện hành vi đánh bạc (số lô, số đề) trước ngày bị bắt quả tang nhiều lần. Tuy nhiên, ngoài lời khai của T, M thì không còn chứng cứ nào khác để chứng minh hành vi đánh bạc của T, M trước đó nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh A không quy kết trách nhiệm hình sự đối với T, M về các lần đánh bạc trước đó là có căn cứ.

Trần Thị T3, Tống Thị Bích N, Trần Thị Ngọc Ẩ, Trần Thị X, Võ Thị P, Nguyễn Văn Đat R tham gia đánh bạc bằng hình thức mua số lô, số đề được thua bằng tiền nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, Cơ quan Cảnh sát điều tra có văn bản đề nghị xử phạt hành chính là phù hợp.

6

Đối với người phụ nữ tên L1 nhận phơi đề của bị can Nguyễn Hoàng Song T và những người mua số đề của bị can T và M không rõ lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về thủ tục tố tụng:

[1] Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy, người liên quan và người làm chứng vắng mặt tại phiên Tòa. Tuy nhiên, quá trình Điều tra truy tố những người này đã có lời khai và sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về nội dung:

[3] Hành vi phạm tội: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, các bị cáo Nguyễn Hoàng Song T; Nguyễn Thị Ngọc M và Trịnh Thị Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người liên quan; người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 15 giờ 20 phút ngày 27/7/2024, tại phòng trọ số B nhà trọ “Khương Vy” thuộc tổ C, khóm C, phường C, thành phố C, Nguyễn Hoàng Song T; Nguyễn Thị Ngọc M; Trịnh Thị Đ đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề được thua bằng tiền với tổng số tiền là 19.459.000đồng. Hành vi nêu trên của các bị cáo Nguyễn Hoàng Song T; Nguyễn Thị Ngọc M và Trịnh Thị Đ đã phạm tội “Đánh bạc”, hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 có khung hình phạt tù từ 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm (thuộc tội phạm ít nghiêm trọng).

Các bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ khả năng nhận thức, thực hiện hành vi, nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý, các bị cáo biết hành vi của mình là không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép, và là trái pháp luật, nhưng vì tư lợi, các bị cáo dấn thân vào con đường phạm tội. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến quản lý nhà nước về trật tự công cộng, đã xâm phạm đến trật tự trị

7

an, nếp sống văn minh của xã hội, ảnh hưởng đến nhiều cuộc sống và hoạt động bình thường của gia đình, gây nguy hiểm cho xã hội. Do đó, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” là có căn cứ pháp luật. Xét, cần có mức hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của từng bị cáo.

[4] Về tính chất, mức độ, vai trò của từng bị cáo nhận thấy:

Trong vụ án này hành vi của Nguyễn Hoàng Song T có vai trò chính, trực tiếp ghi lô đề nên chịu trách nhiệm chính trong vụ án; bị cáo M là người được bị cáo T thuê tiếp bán số lô, số đề được thua bằng tiền; các bị cáo không có sự phân công, phân hóa vai trò nhiệm vụ cụ thể nên thuộc đồng phạm giản đơn; bản thân các bị cáo nhận thức rõ hành vi đánh bạc của mình vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm với mục đích nhằm ăn thua tiền lẫn nhau. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội mà mình đã thực hiện;

Xét về tính chất nguy hiểm cho xã hội, thấy rằng bị cáo T là người trực tiếp ghi bán số lô, số đề và thuê bị cáo M bán tiếp và trả công; Đ chỉ là người mua số lô, số đề của T, nên vai trò của T cao hơn M, đến bị cáo Đ. Vì vậy, khi áp dụng hình phạt sẽ căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà áp dụng hình phạt phù hợp với hành vi của từng bị cáo, để đảm bảo tính nghiêm minh để vừa có tác dụng răn đe giáo dục đối với từng bị cáo, vừa có tác dụng tuyên truyền và phòng ngừa chung.

[5] Về nhân thân của các bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng;

Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo T; M; Đ có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; trình độ học vấn thấp, nhận thức pháp luật còn hạn chế; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong thời gian tại ngoại các bị cáo không có hành vi vi phạm pháp luật nào khác; bị cáo T hiện đang nuôi mẹ già. Nên khi lượng hình cần xem xét cho các bị cáo được quy định tại điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

[6] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 3 điều 321 Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đồng đến 50.000.000đồng. Xét thấy, các bị cáo Nguyễn Hoàng Song T; Nguyễn Thị Ngọc M; Trương Thị Đ1, thuộc thành phần lao động, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, còn nuôi con nhỏ; bị cáo Trịnh Thị Đ, là người chơi đánh bạc, còn chăm lo mẹ già, hai cháu nhỏ, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo;

[7] Về xử lý vật chứng: Xét thấy, đề nghị của Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa là có căn cứ được quy định Điều 46, 47 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, nên được chấp nhận;

8

[8] Về biện pháp tư pháp:

Xét thấy, quá trình điều tra truy tố, cũng như tại phiên tòa bị cáo T khai nhận đã thu lợi bất chính số tiền 18.000.000đồng; bị cáo M khai thu lợi bất chính số tiền 2.000.000đồng, thì ngoài lời khai của các bị cáo không còn chứng cứ khác chứng minh các bị cáo thu lợi số tiền cao hơn. Do đó, buộc bị cáo T và M nộp lại số tiền đã thu lợi bất chính để sung Ngân sách Nhà nước;

[9] Các vấn đề khác: Việc Nguyễn Hoàng Song T và Nguyễn Thị Ngọc M khai nhận đã thực hiện hành vi đánh bạc (số lô, số đề) trước ngày bị bắt quả tang nhiều lần. Tuy nhiên, ngoài lời khai của T, M thì không còn chứng cứ nào khác để chứng minh hành vi đánh bạc của T, M trước đó nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh A không quy kết trách nhiệm hình sự đối với T, M về các lần đánh bạc trước đó là có căn cứ.

Trần Thị T3, Tống Thị Bích N, Trần Thị Ngọc Ẩ, Trần Thị X, Võ Thị P, Nguyễn Văn Đat R tham gia đánh bạc bằng hình thức mua số lô, số đề được thua bằng tiền nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, Cơ quan Cảnh sát điều tra có văn bản đề nghị xử phạt hành chính là phù hợp.

Đối với người phụ nữ tên L1 nhận phơi đề của bị can Nguyễn Hoàng Song T và những người mua số đề của bị can T và M không rõ lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

[10] Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo T; M; Đ, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm; có quyền kháng cáo theo quy định tố tụng hình sự;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hoàng Song T; Nguyễn Thị Ngọc M và Trịnh Thị Đ phạm tội “Đánh bạc”.

1. Về hình phạt:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử bị cáo Nguyễn Hoàng Song T 01 (một) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án;
  2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử bị cáo Nguyễn Thị Ngọc M 09 (chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án;
  3. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Trịnh Thị Đ 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách

9

đối với bị cáo Đ là 01 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 25 tháng 6 năm 2025.

Giao bị cáo Trịnh Thị Đ cho Ủy ban nhân dân phường C (sau này là phường C, tỉnh An Giang) giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo Đ).

2. Về biện pháp tư pháp-xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng Song T nộp lại số tiền thu lợi bất chính 18.000.000 (mười tám triệu) đồng và bị cáo Nguyễn Thị Ngọc M là 2.000.000 (hai triệu) đồng để sung ngân sách Nhà nước;

Trả lại cho ông Nguyễn Văn E số tiền 5.400.000đồng; (trong số tiền đã thu giữ 15.205.000 đồng);

Trả lại cho bị cáo M điện thoại di động 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO F11 Pro, màu tím, Ram 06RB, bộ nhớ điện thoại 128GB, kiểu máy; CPH1969, số sê ri: N78P4TPFBEJ76D4D, SỐ IMEI 1: 863980046353172, Số IMEI 2: 863980046353164, gắn 01 sim có dãy số 8984048000046791550; đã qua sử dụng, màn hình bị nứt.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 9.805.000đồng (trong số tiền đã thu giữ 15.205.000 đồng);

Tịch thu sung vào quỹ Nhà nước: 03 điện thoại di động các loại nhãn hiệu OPPO A98, màu đen; Redmi 12, màu bạc; Xiaomi ReDmi 12, màu xanh

Tịch thu tiêu hủy các vật chứng: 06 cây viết mực màu xanh, đã qua sử dụng; 06 tờ giấy can màu xanh, 06 quyển sổ màu đen, đã qua sử dụng; 01 máy tính màu hồng (không có nhãn hiệu)

Tiếp tục lưu giữ hồ sơ vụ án 15 phơi đề và 01 đĩa DVD;

(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/6/2025 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc).

3. Về án phí, quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 333, Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc

10

hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Buộc các bị cáo Nguyễn Hoàng Song T; Nguyễn Thị Ngọc M và Trịnh Thị Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo, người liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người liên quan; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - Viện kiểm sát tỉnh An Giang;
  • - Viện kiểm sát TP. Châu Đốc;
  • - Trại tạm CA tỉnh An Giang;
  • - Thi hành án DS TP. Châu Đốc;
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án;
  • - Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2025/HS-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về đánh bạc

  • Số bản án: 55/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger