Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2025/HS-ST

Ngày: 25 - 3 - 2025

 

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Quang Huy

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Đặng Văn Miện – Phòng Dân tộc thành phố Đà Lạt
  • Bà Nguyễn Đăng Khánh Phượng – Thành Đoàn Đà Lạt

- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Ngọc Trung Dũng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt tham gia phiên tòa:

Bà Hoàng Thị Thắm

- Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, xét xử sơ công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025 đối với:

- Các bị cáo:

  1. Họ tên: Trần Huy H, giới tính: Nam; sinh ngày: 07/11/2006, tại: Lâm Đồng (thời điểm phạm tội 17 tuổi 03 tháng 07 ngày). Nơi đăng ký HKTT: Thôn E, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Chỗ ở: 4 T, phường F, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo. Học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Phụ bếp. Con ông: Trần Văn Q, sinh năm 1977; Con bà: Hà Thị X, sinh năm: 1984. Gia đình có 02 chị em, lớn nhất sinh năm 2004, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình. Vợ, con: Chưa có.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt)

  2. Họ tên: Trần Ánh T, giới tính: Nữ; sinh năm 2005, tại: Lâm Đồng.Đăng ký HKTT: thôn Đ, xã Đ' N, huyện Đ, Lâm Đồng. Chỗ ở: thôn Đ, xã Đ' N, huyện Đ, Lâm Đồng. Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Thiên chúa giáo. Học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Tự do. Con ông: Trần Quang H1, sinh năm 1978. Con bà: Nguyễn Thị M, sinh năm: 1982. Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình, nhỏ nhất sinh năm 2020. Chồng, con: Chưa có.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)

  3. Họ tên: K' Trần Phong, giới tính: Nam; sinh ngày: 12/04/2006, tại: Lâm Đồng (thời điểm phạm tội 17 tuổi 10 tháng 02 ngày). Nơi đăng ký HKTT: Thôn E, xã L, huyện Đ, Lâm Đồng. Chỗ ở: thôn E, xã L, huyện Đ, Lâm Đồng. Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: K' Ho; Tôn giáo: Không. Học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Sửa xe. Con ông: K' Khương, sinh năm 1976. Con bà: Trần Thị Thủy T1, sinh năm: 1986. Gia đình có 02 anh em, lớn nhất sinh năm 2001, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình. Vợ, con: Chưa có.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo Trần Huy H: Bà Nguyễn Ngọc Hoàng G và bà Vương Thị Phương C – Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. (Bà G có đơn xin vắng mặt; bà C có mặt)

- Người bào chữa cho các bị cáo Trần Huy H, K' Trần Phong, Trần Ánh T: Luật sư Đặng Trọng K – Công ty L thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (Có mặt)

- Bị hại: Chị Huỳnh Lê Uyên N, sinh năm 2005. Địa chỉ: xã Đ' N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. (Vắng mặt)

Anh Bùi Thái S, sinh ngày 23/01/2007. Địa chỉ: Thôn L, xã Đ' N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. (Có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị T2, sinh năm 1962. Địa chỉ: Thôn L, xã Đ' N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. (Vắng mặt)

- Người làm chứng:

  • Chị Trần Ngọc Á, sinh năm 2003. Địa chỉ: Thôn Đ xã Đ' N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. (Vắng mặt)
  • Anh Đào Duy M1, sinh năm 2006. Địa chỉ: Khu phố Q, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. (Vắng mặt)
  • Anh Mai Ngọc Hải N1, sinh năm 2006. Địa chỉ: Thôn A, xã R, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. (Có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chị Huỳnh Lê Uyên N và Trần Ánh T là bạn bè cùng xã với nhau. Vào năm 2023, do có khó khăn nên N có hỏi vay tiền của T. T liên hệ với bạn trai là Trần Huy H và nói H đưa tiền cho T để T cho N vay thì H đồng ý. H chuyển cho T hai lần với tổng số tiền 9.000.000 đồng (chín triệu đồng). Sau đó, T sử dụng số tiền này để chuyển cho N vay, T và N thoả thuận với nhau lãi suất cho vay từ 20.000 đồng đến 30.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày (có nghĩa lãi suất 60% đến 90% một tháng). Sau đó, chị N không có khả năng trả tiền lãi và tiền gốc cho T nên cả hai thống nhất với nhau là N không phải đóng tiền lãi mà phải trả cho T tổng số tiền 17.000.000 đồng (mười bảy triệu đồng), trong đó gồm 9.000.000 đồng (chín triệu đồng) tiền gốc và 8.000.000 đồng (tám triệu đồng) tiền lãi. Tuy nhiên, chị N không có khả năng chi trả và nhiều lần thất hứa với T về việc trả tiền.

Vào khoảng 14h ngày 14/02/2024, Trần Ánh T cùng chị ruột là chị Trần Ngọc Á thấy chị N đi cùng với bạn trai là anh Bùi Thái S ở khu vực Q, Phường A, Tp Đ. T yêu cầu chị N đưa chìa khoá xe mô tô biển số 49C1 – 025.45 của chị N cho T cầm và đi ra khu vực bãi đậu xe ô tô bên hông Quảng trường Lâm viên để nói chuyện. Tại đây, T gọi điện thoại cho H thông báo đã gặp được chị N và đang giữ chìa khoá xe của chị N. H không bàn bạc gì với T mà nảy sinh ý định lấy xe mô tô của chị N để trừ nợ nên H đã gọi điện nhờ bạn là K’Trần P đi đến khu vực Q để chạy xe mô tô về cho H. Lúc này, P đang đi cùng với Đào Duy M1 và Mai Ngọc Hải N1 nên P rủ M1 và N1 đi cùng. H một mình đi đến khu vực Q, cùng lúc này P, M1, N1 cũng đi đến. H đi đến đứng đối diện chị N và hỏi chị N khi nào trả tiền cho H thì chị N không trả lời. Do bực tức việc chị N không trả tiền, H dùng nón bảo hiểm đánh 1 – 2 cái trúng vào phần đầu của N làm chị N bị rách da đầu vùng chẩm. Sau đó, H thấy chị N đang cầm một điện thoại di động hiệu S1 S8 Plus, màu xanh – đen, H nảy sinh ý định lấy chiếc điện thoại di động này để trừ nợ. Thực hiện ý định này, H dùng tay giật lấy điện thoại di động của chị N và nói “Tao lấy tao trừ nợ, điện thoại mày bao nhiêu, tao trừ cho mày 3.000.000 đồng vào tiền nợ”. Sau khi lấy điện thoại H thấy điện thoại không sáng màn hình, H bực tức đập mạnh điện thoại di động xuống đất làm bể màn hình điện thoại. Khi H đập điện thoại di động xuống đất thì trong điện thoại rớt ra hai tờ tiền mệnh giá mỗi tờ 50.000 đồng (năm mươi ngàn đồng). H cầm tiền lên đưa cho T cất giữ.

Sau đó, H tiếp tục yêu cầu anh S đưa H đến vị trí xe mô tô biển số 49C1 – 025.45 đang đậu dưới hầm Siêu thị G1 để lấy xe trừ nợ. T đưa chìa khóa xe mô tô cho H. Sau đó, H rủ P đi cùng với H để lấy xe mô tô. Tại hầm giữ xe của Siêu thị G1, Hoàng lục túi anh S phát hiện một cái bóp bên trong có 2.900.000 đồng (hai triệu chín trăm ngàn đồng) và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 49C1 – 025.45. H lấy 2.400.000 đồng (hai triệu bốn trăm ngàn đồng), giấy chứng nhận đăng ký xe và trả lại cái bóp cho anh S. Sau đó, H yêu cầu S đưa thẻ xe thì P đến lục túi đeo trước ngực của anh S lấy thẻ ra. Sau khi lấy được số tài sản trên, H và P điều khiển xe mô tô biển số 49C1 – 025.45 quay lại khu vực chị N bị đánh trước đó. H nhờ Đào Duy M1 điều khiển xe mô tô biển số 49C1 – 025.45 vừa lấy được chạy về quán H2 ở D T, Phường E, Tp Đ thì M1 đồng ý chạy xe đi theo H. Lúc này, Á và T thấy đầu của chị N bị chảy máu nên đón xe ô tô taxi đưa chị N và anh S đến bệnh viện đa khoa tỉnh L để điều trị. Sau khi lấy được số tiền 2.400.000 đồng của anh S thì khi về quán H cho T và Á mỗi người 200.000 đồng, còn 2.0000.000 đồng H nhờ chị chủ quán chuyển vào tài khoản cho H.

Đồ vật, tài liệu tạm giữ: Một điện thoại di động màu trắng hiệu Samsung Galaxy S8 Plus bị bể hoàn toàn màn hình; Một mũ bảo hiểm màu trắng; Một USB hiệu Kingston bên trong có chứa một đoạn video ghi lại hình ảnh vụ cưỡng đoạt tài sản tại quảng trường Lâm Viên ngày 14/02/2024 (BL: 85; 90).

Người bị hại:

  1. Chị Huỳnh Lê Uyên N, sinh ngày: 31/03/2005, nơi thường trú: xã Đ, huyện Đ, Lâm Đồng bị vết thương rách da đầu vùng chẩm dài 2cm. Bị chiếm đoạt chiếc điện thoại hiệu S1 Galaxy S8 Plus, 100.000 đồng và 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu vàng – đen, biển số 49C1-025.45, số khung: C641DY058519, số máy: 5C641058440. Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 279 ngày 21/5/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh L kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Huỳnh Lê Uyên N tại thời điểm giám định là 01% (một phần trăm). Tại kết luận định giá tài sản số 114 ngày 17/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Tp Đ kết luận: 01 điện thoại di động loại cảm ứng, hiệu Samsung Galaxy S8 Plus đã qua sử dụng, tại thời điểm ngày 14/02/2024 có trị giá là 1.800.000 đồng; 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu vàng – đen, biển số 49C1-025.45, số khung: C641DY058519, số máy: 5C641058440, tại thời điểm định giá ngày 14/02/2024 có trị giá là 7.500.000 đồng. Tại giấy chứng nhận thương tích ngày 02/5/2024 của bệnh viện đa khoa tỉnh L xác định chị Huỳnh Lê Uyên N đang có thai 12 tuần tuổi. Sau khi xảy ra sự việc, gia đình của Trần Ánh T, Trần Huy H và K’ Trần P đã thăm hỏi và hỗ trợ bồi thường cho chị N tổng số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) và trừ 9.000.000 đồng và chị N vay của T và H trước đó. Chị N đã tự nguyện làm đơn bãi nại, không yêu cầu xử lý đối với những người có liên quan trong vụ việc trên và không yêu cầu bồi thường gì thêm (BL: 200; 202-207).

  2. Anh Bùi Thái S – sinh ngày: 23/01/2007 – nơi thường trú: Thôn L, xã Đ, huyện Đ, Lâm Đồng bị Trần Huy H và K' Trần Phong chiếm đoạt 2.400.000 đồng (hai triệu bốn trăm ngàn đồng). Sau khi xảy ra sự việc, gia đình của H đã trả lại số tiền trên cho anh S, anh S không yêu cầu phải bồi thường gì thêm (BL:188-193).

Người liên quan:

Bà Trần Thị T2, sinh năm: 1962, nơi thường trú: Thôn T, Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Quá trình điều tra xác định xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu vàng – đen, biển số 49C1 – 025.45, số khung: C641DY058519, Số máy: 5C641058440 là của bà T2. Ngày 23/12/2024, Cơ quan C1 đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 2125/QĐ-ĐTTH trả cho bà T2 chiếc xe và giấy chứng nhận đăng ký xe của chiếc xe mô tô trên, bà T2 không có yêu cầu gì thêm (BL: 105; 107; 208).

Tại bản Cáo trạng số 43/CT-VKSÐL-LĐ ngày 20/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt đã truy tố các bị cáo Trần Huy H, K' Trần P và Trần Ánh T về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự

Tại phiên tòa hôm nay,

Các bị cáo khai nhận hành vi đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt đã truy tố, các bị cáo không thắc mắc khiếu nại gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt vẫn giữ nguyên bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Trần Huy H, K' Trần P và Trần Ánh T phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự. Trong suốt quá trình điều tra, truy tố, các bị cáo đã ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội. Sau khi sự việc xảy ra, các bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên cần áp dụng cho các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo phạm tội đối với phụ nữ có thai nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm i, khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, tại thời điểm phạm tội các bị cáo H và P đều là người chưa thành niên nên cần áp dụng thêm các quy định tại các Điều 90, 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự. Xét thấy, các bị cáo đều có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng và không có tiền án, tiền sự. Không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội cũng đủ răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung. Các bị cáo đủ điều kiện để được áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; các Điều 17, 58, 65, 90, 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Huy H từ 24 đến 30 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 48 đến 60 tháng.

  • Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; các Điều 17, 58, 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Ánh T từ 18 đến 24 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 36 đến 48 tháng.

  • Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; các các Điều 17, 58, 65, 90, 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo K' Trần Phong từ 18 đến 24 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 36 đến 48 tháng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không đặt ra để xem xét. Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Người bào chữa cho các bị cáo Trần Huy H, Trần Ánh T, K' Trần Phong có Luật sư Đặng Trọng K trình bày bản luận cứ bào chữa cho các bị cáo và nêu quan điểm: Thống nhất việc Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng cho các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Ngoài ra, đề nghị HĐXX xem xét áp dụng thêm cho các bị cáo tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 51 BLHS, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn vì toàn bộ các tài sản chiếm đoạt đã được các bị cáo hoàn trả lại cho bị hại. Tổng giá trị tài sản các bị cáo cưỡng đoạt được có giá trị nhỏ và chỉ ở mức đầu khung của Điều luật. Không đồng ý việc Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 BLHS đối với các bị cáo vì tại thời điểm phạm tội các bị cáo đều không biết bị hại đang có thai. Bị cáo H và K' Trần P đều phạm tội khi chưa đủ tuổi thành niên, nhận thức pháp luật có phần bị hạn chế, mặt khác việc phạm tội của các bị cáo một phần xuất phát từ lỗi của bị hại khi cố tình không trả tiền đúng hẹn như cam kết. Các bị cáo đều có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo. Do đó, đề nghị HĐXX xem xét cho các bị cáo được hưởng mức hình phạt cải tạo không giam giữ.

Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Trần Huy H thống nhất về tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với các bị cáo. Vì cần tiền nên N đã vay tiền của T nhưng nguồn tiền là của H, là công sức lao động của H. Chỉ vì muốn lấy lại tiền nên các bị cáo mới có hành vi như trên. Trợ giúp viên pháp lý cũng không đồng ý việc đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 BLHS đối với các bị cáo vì tại thời điểm phạm tội các bị cáo đều không biết bị hại đang có thai. Đề nghị HĐXX xem xét áp dụng cho các bị cáo được hưởng mức hình phạt cải tạo không giam giữ.

Ý kiến tranh luận đối đáp của Đại diện Viện kiểm sát không đồng ý việc người bào chữa cho các bị cáo đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 51 BLHS do giá trị tài sản cưỡng đoạt đã được làm rõ và các bị cáo đều thừa nhận toàn bộ hành vi của mình. Đối với tình tiết tăng nặng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 không phụ thuộc vào việc ý thức chủ quan của các bị cáo có biết hay không biết người bị hại đang có thai. Do đó, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm như đã nêu ở trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình điều tra, truy tố; Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại đều không khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được tiến hành hợp pháp.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bị hại chị Huỳnh Lê Uyên N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị T2 mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Xét lời trình bày của chị N và bà T2 trong hồ sơ vụ án đã đầy đủ, việc vắng mặt không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định.

[3] Về căn cứ kết tội: Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án về thời gian, không gian, địa điểm và cách thức thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 14 giờ ngày 14/02/2024, tại khu vực Quảng trường L, Phường A, Tp Đ, Trần Huy H đã dùng nón bảo hiểm đánh vào phần đầu của chị Huỳnh Lê Uyên N. Sau đó, H giật lấy điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S8 Plus, màu xanh – đen trị giá 1.800.000 đồng của chị N đang cầm trên tay nhằm mục đích cấn trừ nợ. Do điện thoại không sáng màn hình nên H đập mạnh điện thoại xuống đất làm bể màn hình và rớt ra hai tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng (năm mươi ngàn đồng). H cầm tiền lên đưa cho Trần Ánh T cất giữ. Tiếp đó, T đưa chìa khóa xe mô tô biển số 49C1 – 025.45 cho H rồi H rủ K’ Trần P cùng xuống hầm giữ xe. Tại hầm giữ xe Hoàng lục ví và lấy của anh Bùi Thái S số tiền 2.400.000 đồng. P lục túi đeo trước ngực của anh S lấy thẻ xe rồi H và P điều khiển xe mô tô biển số 49C1 – 025.45 quay lại khu vực chị N bị đánh trước đó và nhờ Đào Duy M1 điều khiển xe mô tô biển số 49C1 – 025.45 vừa lấy được chạy về quán H2 ở D T, Phường E, TP Đ. Như vậy, Trần Huy H chiếm đoạt của chị Huỳnh Thị Uyên N2 tổng số tiền 9.400.000 đồng, của anh Bùi Thái S số tiền 2.400.000 đồng. K' Trần Phong chiếm đoạt của chị Huỳnh Thị Uyên N2 số tiền 7.500.000 đồng, của anh Bùi Thái S số tiền 2.400.000 đồng và chị Trần Ánh T chiếm đoạt của chị Huỳnh Thị Uyên N2 số tiền 7.600.000 đồng.

Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để xác định hành vi của các bị cáo Trần Huy H, K' Trần P và Trần Ánh T phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo có đủ khả năng nhận thức và năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Các bị cáo đã có hành vi sử dụng vũ lực, uy hiếp tinh thần của người bị hại nhằm cưỡng đoạt tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội và gây hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có một mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo để răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Xét vai trò của các bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Vụ án có tính chất đồng phạm nhưng chỉ giản đơn, không có sự phân công vai trò, bàn bạc cụ thể mà các bị cáo chỉ cùng nhau thống nhất ý chí thực hiện.

Đối với Trần Huy H là người thực hành chính, vai trò cao nhất trong vụ án. Bị cáo đã trực tiếp dùng mũ bảo hiểm đánh và cưỡng đoạt chiếc điện thoại của chị N2, lục ví cưỡng đoạt tiền của anh S và điều khiển chiếc xe gắn máy ra khỏi hầm giữ xe của siêu thị.

Đối với Trần Ánh T, là người đã cho N2 vay tiền, yêu cầu N2 phải đưa chìa khóa xe cho T cầm nhằm mục đích giữ N2 ở lại Quảng trường. Sau đó đã gọi cho H đến để đòi tiền N2. Vai trò của bị cáo đứng thứ hai, sau bị cáo H. Tuy nhiên, bị cáo là người đã thành niên, nhận thức pháp luật tốt hơn nên mức hình phạt phải cao hơn so với bị cáo P và ngang bằng với so với hình phạt của bị cáo H.

Đối với K' Trần P, bị cáo cùng với Hoàng lục túi của anh S để tìm kiếm thẻ xe, ngồi sau xe của H điều khiển ra khỏi khu vực hầm giữ xe. Vai trò của bị cáo là thứ yếu và thấp nhất trong vụ án.

[4.2] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Thời điểm phạm tội mặc dù các bị cáo đều không biết chị N2 đang có thai 12 tuần tuổi và chị N2 cũng không nói cho các bị cáo được biết. Tuy nhiên, trong vụ án này, hành vi phạm tội của các bị cáo thực hiện với lỗi cố ý. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, khoản 1 Điều 52 BLHS không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của các bị cáo có nhận biết được hay không nhận biết được người bị xâm hại là phụ nữ đang có thai thì vẫn phải bị áp dụng tình tiết tăng nặng này.

Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi sự việc xảy ra, các bị cáo đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại và được bị hại có đơn xin bãi nại, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đối với Trần Ánh T sau khi thấy đầu bị hại N2 chảy máu thì bị cáo cũng đã tích cực cứu giúp, gọi xe đưa N2 đi cấp cứu. Do đó, khi quyết định hình phạt cần áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, tại thời điểm phạm tội các bị cáo Trần Huy H, K' Trần P đều là người chưa thành niên, nhận thức pháp luật có phần bị hạn chế. Do đó, khi quyết định hình phạt cần áp dụng thêm cho các bị cáo được hưởng các quy định đối với người chưa thành niên phạm tội quy định tại các Điều 90, 91 và khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo đều có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, chưa từng phạm tội và không có tiền án, tiền sự. Hành vi phạm tội mang tính chất bộc phát, chỉ vì tâm lý không đòi được tiền mà trước đó đã cho N2 vay nên mới nảy sinh ý định cưỡng đoạt tài sản. Việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội. Do đó, không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội cũng đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung. Áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, cho các bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

[4.3] Người bào chữa cho các bị cáo tại phiên tòa đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, thiệt hại thực tế do hành vi phạm tội của các bị cáo đã xảy ra nên yêu cầu này là không có căn cứ để chấp nhận.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy đối với vật chứng không còn giá trị sử dụng là 01 mũ bảo hiểm màu trắng, dây đeo màu đen.

Trả lại cho chị Huỳnh Lê Uyên N 01 điện thoại Samsung Galaxy S8 Plus và 02 tờ tiền Việt Nam đồng, mỗi tờ mệnh giá 50.000đ đã được nộp vào tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố các bị cáo Trần Huy H, Trần Ánh T, K' Trần Phong phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”

  2. Về hình phạt:

    1. Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i, khoản 1 Điều 52; Điều 17, 58, 65 và các Điều 90, 91 khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Huy H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 25/3/2025.

    2. Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i, khoản 1 Điều 52; các Điều 17, 58, 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Ánh T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 25/3/2025.

    3. Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i, khoản 1 Điều 52; Điều 17, 58, 65 và các Điều 90, 91 khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo K' Trần Phong 18 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 25/3/2025.

Giao bị cáo Trần Huy H cho Ủy ban nhân dân phường F, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; Giao bị cáo Trần Ánh T cho Ủy ban nhân dân xã Đ' Nàng, huyện Đ, Lâm Đồng; Giao bị cáo K' Trần Phong cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện Đ, Lâm Đồng nơi các bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. (Đã giải thích chế định chấp hành án treo cho bị cáo)

  1. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Tịch thu tiêu hủy đối với vật chứng không còn giá trị sử dụng là 01 mũ bảo hiểm màu trắng, dây đeo màu đen.

    Trả lại cho chị Huỳnh Lê Uyên N 01 điện thoại di động loại cảm ứng, mã máy SM-G955FD, hiệu S1 S8 Plus, số imei 359116/08/793951/9, đã qua sử dụng, bị hư hỏng và 02 tờ tiền Việt Nam đồng, mỗi tờ mệnh giá 50.000đ đã được nộp vào tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt theo biên lai thu số 0001159 ngày 21/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt.

    (Tất cả vật chứng có đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/01/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Đ và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt).

  2. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Trần Huy H, Trần Ánh T, K' Trần Phong, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, bị hại anh Bùi Thái S được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Riêng bị hại chị Huỳnh Lê Uyên N, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị T2 vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhân được bản án hoặc được niêm yết công khai theo quy định pháp luật (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ được kháng cáo đối với phần có liên quan).

Các Hội thẩm

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

 

Vũ Quang Huy

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND thành phố Đà Lạt;
  • - Phòng KTNV&THA;
  • - Phòng PV 06 Công an tỉnh Lâm Đồng;
  • - Chi cục THADS thành phố Đà Lạt;
  • - Bị cáo (để thi hành);
  • - Bị hại, người có QLNVLQ;
  • - Sở tư pháp Lâm Đồng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; Án văn;
  • - Hồ sơ THAHS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Quang Huy

Giao bị cáo Bơ Nah Ria P1 Lực cho Ủy ban nhân dân Phường E, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1, Điều 69 của Luật thi hành án hình sự. (Đã giải thích chế định chấp hành án treo cho bị cáo)

“Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thị hành án hình sự cấp quân khu nhận được quyết định thi hành án”.

Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân ...................................giám sát, giáo dục trong thời gian các bị cáo chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

Khấu trừ 05% thu nhập của bị cáo số tiền là 150.000đ(Một trăm năm mươi nghìn đồng)/ tháng, trong thời gian bị cáo chấp hành án để sung quỹ nhà nước. Việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hàng tháng.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện một số công việc cộng đồng và thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT về cưỡng đoạt tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 55/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Huy Hoàng phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger