Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐIỆN BIÊN

Bản án số: 55/2025/HS-ST

Ngày: 24-3-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hòa

Thẩm phán: Ông Trương Anh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Khuyên

Ông Lê Quang Nhuận

Bà Vương Kim Tám

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Thủy, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Bà Nhữ Thị Thanh Nhàn, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên đã tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 49/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Vừ A S, sinh ngày: 28/9/1980 tại huyện T, tỉnh Điện Biên; giới tính: nam; nơi cư trú: Thôn P, xã L, huyện T, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: nông nghiệp; trình độ văn hóa: không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Mông; tôn giáo: không; con ông: Vừ A D (đã chết) và bà: Ly Thị C, sinh năm 1930; vợ là: Ly Thị P, sinh năm 1977 (đã chết), bị cáo có 04 con: con lớn nhất sinh năm 1996, con nhỏ nhất sinh năm 2005; tiền án: không; tiền sự: ngày 06/9/2021 bị Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Điện Biên áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Quyết định số 19/QĐ-TA, với thời hạn 20 tháng, ngày 08/5/2023 chấp hành xong trở về địa phương (chưa được xóa tiền sự); nhân thân: chưa bị kết án, nhưng năm 2016-2018 bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đã chấp hành xong và được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/10/2024, sau đó bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Điện Biên cho đến ngày xét xử (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo: bà Mai Thị Thanh Liêm, trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên (có mặt).

- Bị hại: Bà Ly Thị P, sinh năm: 1977, địa chỉ: thôn P, xã L, huyện T, tỉnh Điện Biên (đã chết).

- Người đại diện hợp pháp của bị hại:

  • + Bà Giàng Thị D, sinh năm: 1954; địa chỉ: Xã Sính Phình, huyện T, tỉnh Điện Biên (mẹ đẻ).
  • + Anh Vừ A T, sinh năm 1996; anh Vừ A C, sinh năm 2000; anh Vừ A C1, sinh năm 2003; anh Vừ A L, sinh năm 2005 (là con đẻ của bị hại) - cùng địa chỉ: thôn P, xã L, huyện T, tỉnh Điện Biên.

Người đại diện theo ủy quyền của những người đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Vừ A C, sinh năm 2000, địa chỉ: thôn P, xã L, huyện T, tỉnh Điện Biên (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Vừ A T, sinh năm 1996, địa chỉ: thôn P, xã L, huyện T, tỉnh Điện Biên (vắng mặt).

- Người làm chứng: chị S Thị M, sinh năm 1999; địa chỉ: thôn P, xã L, huyện T, tỉnh Điện Biên (vắng mặt).

- Người phiên dịch: ông S A X, sinh năm 1960; địa chỉ: bản Phiêng Bua, phường Noong Bua, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vừ A S và Ly Thị P là vợ chồng, sống cùng nhà con trai cả là Vừ A T tại thôn P, xã L, huyện T, tỉnh Điện Biên. S là người nghiện chất ma tuý và đã phải đi cai nghiện bắt buộc. Tháng 5 năm 2023, sau khi cai nghiện xong trở về địa phương, S luôn cho rằng do vợ con báo với cơ quan Công an mà S bị bắt đi cai nghiện, và nghi ngờ P có quan hệ tình cảm với người khác nên S thường xuyên chửi mắng P. Vào khoảng 06 giờ ngày 05/10/2024, bà P cùng với vợ chồng Vừ A T, Sùng Thị M ngồi ở trong bếp để nấu cơm ăn sáng. Lúc này S cũng tỉnh dậy, không thấy P đâu thì nghi ngờ vợ đi ngoại tình nên lấy ở cuối giường ngủ của S một con dao lưỡi bằng kim loại dài 17cm, mũi dao nhọn, sống dao dày 0,4cm, bản dao rộng nhất 03cm, cán bằng gỗ, tổng chiều dài 24,5cm, lưỡi dao được bọc bằng một bao gỗ cho vào trong túi quần bên phải đang mặc (S thường mang theo bên người) rồi đi tìm vợ. S đi đến nhà bếp, thấy P đang chuẩn bị cho lợn ăn thì chửi bới, đe doạ P: “Tao sẽ giết mày rồi tự tử sau” nhưng P không nói gì. Khi P đứng cách S khoảng 50cm, S dùng tay phải (là tay thuận) rút con dao ở túi quần bên phải ra khỏi bao dơ lên đâm một nhát theo hướng từ trên xuống dưới, từ trái sang phải trúng vào ngực trái của P gây vết thương sâu 13cm, rách thủng da kích thước (3,4 x 02)cm, bờ mép sắc gọn, làm đứt sụn xương sườn số 2 bên trái, đứt thủng bờ trước thuỳ trên phổi trái dài, thủng mặt trước bao màng ngoài tim, đứt thủng tâm nhĩ trái từ trước ra sau, thủng mặt sau bao màng ngoài tim, đứt thủng rốn phổi trái, đứt mạch máu và các nhánh phế quản thùy của phổi trái, rách dây chằng dọc trước ở gian đốt sống 5-6. Đâm P xong S rút dao ra, P gục xuống. Thấy mẹ bị đâm, chị Sùng Thị M chạy ra ngoài hô hoán mọi người đến giúp đỡ, còn Vừ A T đứng cách S 1m liền với lấy 01 chiếc cuốc dài 1,15m, cán gỗ tròn đường kính 3,5cm, lưỡi cuốc bằng kim loại kích thước (15x19)cm đang treo trên tường nhà để ngăn cản. Ngay lúc S cầm dao tự đâm vào ngực trái của mình gây rách da kích thước (4 x 0,5)cm rồi rút ra thì T lấy được cuốc giơ về phía S, làm sống cuốc trúng vào trán S gây rách da kích thước khoảng (6 x 1)cm. Sau đó T vứt cuốc đi rồi chạy lại khống chế hai tay S. Hai người vật lộn với nhau một lúc làm con dao trên tay S rơi xuống đất, sau đó mọi người chạy đến cùng với T trói được tay chân S để đưa đi cấp cứu, còn bà P thì gục bên vách thưng nhà bếp và tử vong.

Tại Kết luận giám định pháp y về tử thi số 1666/KLGĐTT-KTHS ngày 25/10/2024 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận nguyên nhân chết của bà Ly Thị P: mất máu cấp không hồi phục do vết thương thấu tim; Cơ chế hình thành dấu vết thương tại vùng ngực bên trái: Do vật sắc nhọn có 01 cạnh sắc, có chiều hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải và từ trên xuống dưới; Thời gian từ khi tử vong đến khi tiến hành giám định pháp y về tử thi là từ 06 giờ đến 12 giờ đồng hồ.

Tại Kết luận giám định vật gây thương tích số 1723/KLVGTT-KTHS ngày 08/11/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Đặc điểm dấu vết thương tích trên tử thi Ly Thị P theo mô tả trong tài liệu do cơ quan trưng cầu cung cấp phù hợp với đặc tính gây thương tích của con dao gửi giám định.

Tại Kết luận giám định ADN số 577/24/KLGDADN-PYQG ngày 22/10/2024 của Viện Pháp y Quốc gia - Bộ Y tế kết luận: vết máu thu tại 2 vị trí trên hiện trường và trên con dao gửi giám định là máu người. ADN tại hai vị trí máu người và trên con dao phù hợp với ADN của Ly Thị P và Vừ A S.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 191/KLTTCT-TTPY ngày 13/11/2024 của Trung tâm Pháp y, Sở Y tế tỉnh Điện Biên kết luận: Tại thời điểm giám định, Vừ A S có một sẹo phần mềm ở vùng trán trái, kích thước 3,5cm x 0,2cm, gây tổn hại về sức khỏe là 03 % (Ba phần trăm) và một sẹo phần mềm ở ngực trái (cách dưới núm vú trái 02 cm), kích thước 02 cm x 0,2 cm, gây tổn hại về sức khỏe là 0,97% (Không phẩy chín mươi bảy phần trăm); Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên cho Vừ A S tại thời điểm giám định là 04% (Bốn phần trăm). Dấu vết thương tích để lại ở vùng trán trái của Vừ A S phù hợp với đặc điểm và cơ chế hình thành dấu vết thương tích do vật tày có cạnh gây nên. Dấu vết thương tích để lại ở vùng ngực trái của Vừ A S phù hợp với đặc điểm và cơ chế hình thành dấu vết thương tích do vật sắc gây nên.

Tại Kết luận giám định vật gây thương tích số 49/2024/KLVGTT-TTPY ngày 15/11/2024 của Trung tâm pháp y, Sở Y tế tỉnh Điện Biên kết luận:

  • - Con dao liền chuôi: thân dao bằng kim loại màu xám, chuôi dao bằng kim loại màu đen, cán bằng gỗ, hình trụ tròn màu nâu, mật độ cứng chắc, tổng chiều dài 24,5cm (thân dao bằng kim loại dài 22cm, thân lưỡi dao dài 17cm, bản dao chỗ rộng nhất 3cm, sống dao dày 0,3cm, lưỡi dao sắc, mũi dao nhọn; chuôi dao bằng kim loại, hình ống trụ tròn dài 5cm, chu vi chỗ lớn nhất 6cm, nhỏ nhất 5,5cm) có thể gây nên thương tích tại vùng ngực trái của Vừ A S và phù hợp với đặc điểm, cơ chế hình thành dấu vết thương tích do vật sắc nhọn gây nên.
  • - Cái cuốc (tổng chiều dài 115cm, thân cuốc dài 15cm, chỗ rộng nhất 17,5cm, chỗ hẹp nhất 4cm, chỗ dày nhất 0,6cm, chỗ mỏng nhất - lưỡi cuốc 0,1cm, phần tra cán cuốc hình ống trụ tròn dài 11cm, chu vi chỗ lớn nhất 11cm, chỗ nhỏ nhất 10cm, bề mặt hoen rỉ và dính đất cát; cán cuốc bằng gỗ, hình trụ tròn dài 113cm, chu vi chỗ lớn nhất là 11cm, chỗ nhỏ nhất 9,5cm) có thể gây nên thương tích tại vùng trán trái của Vừ A S và phù hợp với đặc điểm, cơ chế hình thành dấu vết thương tích do vật tày có cạnh gây nên.

Tại bản Cáo trạng số: 01/CT-VKS-P2 ngày 15/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên đã truy tố Vừ A S về tội “Giết người” theo quy định tại Điểm n Khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Vừ A S phạm tội Giết người; xử phạt bị cáo với mức án từ 18 năm đến 20 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • - Không đề cập giải quyết trách nhiệm dân sự do những người đại diện hợp pháp của bị hại và bị cáo không yêu cầu bồi thường.
  • - Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS và khoản 2 Điều 106 BLTTHS, tịch thu tiêu hủy vật chứng vụ án đã thu giữ theo quy định của pháp luật.
  • - Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo không tranh luận về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo; không khiếu nại gì về các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Người bào chữa cho rằng, quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và xem xét đến nguyên nhân, hoàn cảnh phạm tội của bị cáo để cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất có thể; chấp nhận sự tự nguyện của những người đại diện hợp pháp của bị hại về việc không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại. Về hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng và án phí, nhất trí như luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng bị cáo Vừ A S thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên, bị cáo không bị oan sai; bị cáo xin được hưởng hình phạt thấp nhất để sớm có cơ hội hòa nhập cộng đồng và cải tạo thành công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về xác định hành vi phạm tội của bị cáo:

Do nghi ngờ vợ là Ly Thị P có quan hệ tình cảm với người khác nên bị cáo Vừ A S thường xuyên chửi mắng, đe dọa giết bà P. Vào khoảng 06 giờ ngày 05/10/2024, tại nhà của con bị cáo ở thôn P, xã L, huyện T, tỉnh Điện Biên trong khi bà P đang cùng con trai Vừ A T và con dâu Sùng Thị M chuẩn bị cho lợn ăn thì Vừ A S đã dùng 01 con dao có lưỡi bằng kim loại dài 17cm, mũi dao nhọn, sống dao dày 0,4cm, bản dao rộng nhất 03cm, cán bằng gỗ, tổng chiều dài 24,5cm đâm một nhát với lực rất mạnh vào ngực Ly Thị P thấu tim, gây mất máu cấp và tử vong tại chỗ.

Sau đó Vừ A S dùng dao tự đâm vào ngực trái của mình (cách dưới núm vú trái 02 cm), làm rách da kích thước 02cm x 0,2cm, gây tổn hại về sức khỏe là 0,97% (không phẩy chín mươi bảy phần trăm).

Để ngăn cản S tự sát và có hành vi vi pham pháp luật khác, anh Vừ A T (con trai của bị cáo) đã dùng 01 chiếc cuốc dài 1,15m, cán gỗ tròn đường kính 3,5cm, lưỡi cuốc bằng kim loại kích thước (15x19)cm dơ về phía bị cáo để ngăn cản, nên đã gây ra một vết thương cho S ở vùng trán trái, kích thước 3,5cm x 0,2cm, gây tổn hại về sức khỏe là 03 % (ba phần trăm).

Tại phiên tòa, bị cáo Vừ A S khai nhận toàn bộ hành vi đã gây ra, lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người liên quan và phù hợp với: Kết quả khám nghiệm hiện trường, thực nghiệm điều tra, Biên bản khám nghiệm tử thi của bị hại và biên bản xem xét dấu vết trên thân thể của bị cáo; Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 1666/KLGĐTT-KTHS ngày 25/10/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận nguyên nhân chết: “Mất máu cấp không hồi phục do vết thương thấu tim”, Bản kết luận giám định số 1723/KLVGTT-KTHS ngày 08/11/2024 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Điện Biên về vật gây thương tích kết luận: “đặc điểm dấu vết thương tích trên tử thi Ly Thị P phù hợp với đặc tính gây thương tích của con dao gửi giám đinh”; Bản kết luận giám định ADN số 577/24/KLGDADN-PYQG ngày 22/10/2024 của Viện Pháp y Quốc gia - Bộ Y tế kết luận: mẫu máu thu được tại hiện trường là máu của P và S; mẫu máu trên con dao có hiện diện đầy đủ các alen của P và S; Bản kết luận giám định số 191/2024/KLTTCT-TTPY ngày 13/11/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Điện Biên kết luận tổn thương trên cơ thể của bị cáo S là 4% (trong đó vết thương vùng trán trái là 3%, phù hợp với vật tày có cạnh gây nên; vết thương phần ngực trái là 0,97%, phù hợp với vật sắc gây nên) và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử thấy rằng: Chỉ vì nghi ngờ ghen tuông vô cớ về việc vợ có quan hệ ngoại tình, Vừ A S đã dùng dao nhọn, sắc là hung khí nguy hiểm đâm một nhát với lực mạnh vào vùng ngực vợ là bà Ly Thị P, khiến bà P tử vong. Hành vi đó thể hiện tính chất “côn đồ”, coi thường tính mạng của người khác. Bị cáo nhận thức được hành vi dùng dao sắc nhọn tác động vào cơ thể người khác với lực mạnh có thể dẫn đến chết người, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện với mong muốn tước đi mạng sống của bà P.

Vừ A S là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội có tính chất đặc biệt nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, hậu quả là đã tước đoạt quyền được sống của bà Ly Thị P, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn, gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân.

Do đó, khẳng định, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật, bị cáo không bị oan.

[2] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Vừ A S là người nghiện ma túy, ngày 04/7/2016 S bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc trong thời hạn 20 tháng, theo Quyết định số 05/2016/QĐ-TA của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Điện Biên; ngày 08/02/2018 S chấp hành xong được trở về địa phương, đã được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Ngày 06/9/2021 S bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 20 tháng, theo Quyết định số 19/QĐ-TA của Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Điện Biên; ngày 08/5/2023 chấp hành xong trở về địa phương, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính (đang có tiền sự). Sau khi trở về địa phương, sinh sống cùng gia đình, S không chịu tu dưỡng phẩm chất đạo đức, tước đoạt chính mạng sống của vợ mình, để rồi hôm nay phải đứng trước Tòa nhận sự trừng phạt của pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét thấy, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, nhân thân xấu. Do đó cần phải có mức hình phạt tù nghiêm khắc, tương xứng tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích, đồng thời nhằm răn đe, giáo dục, phòng ngừa tội phạm chung.

Đề nghị của Kiểm sát viên và Người bào chữa về hình phạt áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ nên được chấp nhận.

[3] Về trách nhiệm dân sự:

Những người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại đối với tính mạng của bà Ly Thị P. Vừ A T đã có hành vi dùng chiếc cuốc đánh trúng vào vùng trán của bị cáo Vừ A S làm tổn hại về sức khỏe 03% (ba phần trăm). Bị cáo không yêu cầu anh T phải bồi thường. Do đó, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết về trách nhiệm bồi thường dân sự.

[4] Về vật chứng vụ án:

Mẫu chất màu nâu nghi máu thu tại vị trí số 1 ngày 05/10/2024; Mẫu chất màu nâu nghi máu thu tại vị trí số 6 ngày 05/10/2024; Mẫu chất màu nâu nghi máu thu tại vị trí số 7 ngày 05/10/2024; Vải dạng mũ đội đầu thu tại vị trí số 2 ngày 05/10/2024; Chiếc dép thu tại vị trí số 3 ngày 05/10/2024; Chiếc dép thu tại vị trí số 4 ngày 05/10/2024; Hàm răng giả thu tại vị trí số 5 ngày 05/10/2024; Hai chiếc áo trên người tử thi Ly Thị P ngày 05/10/2024; áo phông, quần sịp đùi, quần dài, dây cao su; bao dao bằng gỗ; 01 con dao là công cụ phạm tội, đây là những vật chứng của vụ án, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[5] Các vấn đề khác:

Quá trình điều tra xác định Vừ A S đã có hành vi sử dụng chất ma tuý là Heroine, vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chông bạo lực gia đình. Ngày 16/12/2024, Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Vừ A S, hình thức Cảnh cáo.

Quá trình điều tra, S khai nhận trong quá trình sử dụng ma túy đã mua Heroine của người không biết tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không điều tra, xác minh được. Hội đồng xét xử không có cơ sở xử lý.

Đối với việc Vừ A T cầm chiếc cuốc đánh trúng vào vùng trán của Vừ A S làm S bị thương, tổn hại về sức khỏe 03% (ba phần trăm), mục đích để ngăn cản việc S tự sát và tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm pháp luật khác. Hành vi của Vừ A T thuộc trường hợp gây thiệt hại trong “Tình thế cấp thiết” quy định tại khoản 1 Điều 23 Bộ luật hình sự nên không cấu thành tội phạm, do đó không xem xét, xử lý đối với Vừ A T.

Vừ A S khai Ly Thị P có quan hệ tình cảm với Vừ A Lừ (anh trai của bị cáo), quá trình điều tra xác định Lừ không có quan hệ tình cảm gì với P, vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét, xử lý.

[6] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Công an tỉnh Điện Biên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên, các Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người bào chữa, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[7] Về án phí:

Bị cáo Vừ A S là dân tộc thiểu số, sinh sống ở khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc hộ nghèo; tại phiên tòa bị cáo xin miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm. Do đó, căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
    • - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vừ A S phạm tội “Giết người”.
    • - Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vừ A S 18 (mười tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (05/10/2024).
  2. Về trách nhiệm dân sự: Không đề cập giải quyết do người đại diện hợp pháp của bị hại và bị cáo không yêu cầu bồi thường.
  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy vật chứng của vụ án gồm:
    • - 01 phong bì niêm phong được dán kín, mặt trước ghi chữ “chất màu nâu nghi máu thu tại vị trí số 1 ngày 05/10/2024”. Mặt sau có chữ ký, họ tên của Vừ A T, Vàng Dùng Pắng, S A Thào, Đậu Thành Bắc, Nhữ Thị Thanh Nhàn, Đỗ Xuân Thành và 02 dấu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên.
    • - 01 phong bì niêm phong được dán kín, mặt trước ghi chữ “Vải dạng mũ đội đầu thu tại vị trí số 2 ngày 05/10/2024”. Mặt sau có chữ ký, họ tên của Vừ A T, Vàng Dùng Pắng, S A Thào, Đậu Thành Bắc, Nhữ Thị Thanh Nhàn, Đỗ Xuân Thành và 02 dấu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên.
    • - 01 phong bì niêm phong được dán kín, mặt trước ghi chữ “Chiếc dép thu tại vị trí số 3 ngày 05/10/2024”. Mặt sau có chữ ký, họ tên của Vừ A T, dép Vàng Dùng Pắng, S A Thào, Đậu Thành Bắc, Nhữ Thị Thanh Nhàn, Đỗ Xuân Thành và 02 dâu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên.
    • - 01 phong bì niêm phong được dán kín, mặt trước ghi chữ “Chiếc dép thu tại vị trí số 4 ngày 05/10/2024”. Mặt sau có chữ ký, họ tên của Vừ A T, Vàng Dùng Pắng, S A Thào, Đậu Thành Bắc, Nhữ Thị Thanh Nhàn, Đỗ Xuân Thành và 02 dấu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên.
    • - 01 phong bì niêm phong được dán kín, mặt trước ghi chữ “Hàm răng giả thu tại vị trí số 5 ngày 05/10/2024”. Mặt sau có chữ ký, họ tên của Vừ A T, Vàng Dùng Pắng, S A Thào, Đậu Thành Bắc, Nhữ Thị Thanh Nhàn, Đỗ Xuân Thành và 02 dấu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên.
    • - 01 phong bì niêm phong được dán kín, mặt trước ghi chữ “Mẫu chất màu nâu nghi máu thu tại vị trí số 6 ngày 05/10/2024”. Mặt sau có chữ ký, họ tên của Vừ A T, Vàng Dùng Pắng, S A Thào, Đậu Thành Bắc, Nhữ Thị Thanh Nhàn, Đỗ Xuân Thành và 02 dấu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên.
    • - 01 phong bì niêm phong được dán kín, mặt trước ghi chữ “chất màu nâu nghi máu thu tại vị trí số 7 ngày 05/10/2024”. Mặt sau có chữ ký, họ tên của Vừ A T, Vàng Dùng Pắng, S A Thào, Đậu Thành Bắc, Nhữ Thị Thanh Nhàn, Đỗ Xuân Thành và 02 dấu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên.
    • - 01 phong bì niêm phong được dán kín, mặt trước ghi chữ “Hai chiếc áo trên người tử thi Ly Thị P ngày 05/10/2024”. Mặt sau có chữ ký, họ tên của Vừ A T, Vàng Dùng Pắng, S A Thào, Đậu Thành Bắc, Nhữ Thị Thanh Nhàn, Đỗ Xuân Thành và 02 dấu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên.
    • - 01 túi niêm phong được dán kín, trên túi ghi chữ “Áo phông, quần sịp đùi, quần dài, dây cao su” và chữ ký, họ tên của Vừ A Lù, Vì Văn Hà, Lò Văn Phòng, Lò Văn Tản.
    • - 01 túi niêm phong được dán kín, trên túi ghi chữ “Bao dao bằng gỗ” và chữ ký, họ tên của Vừ A Lù, Vi Văn Hà, Lò Văn Phòng, Lò Văn Tản.
    • - 01 túi hồ sơ của Trung tâm pháp y được dán kín, trên mặt túi hồ sơ ghi chữ “01 (Một) con dao, hoàn lại mẫu vật sau giám định, ngày 12/11/2024”, Mặt sau trên mép dán có chữ ký, họ tên của Dương Văn Long, Lò Thị Kim Toán, Trần Thị Giang Châu và 02 dấu tròn đỏ của Trung tâm pháp y tỉnh Điện Biên;
    • - 01 túi niêm phong được dán kín, trên mặt túi hồ sơ ghi chữ “Hoàn lại mẫu vật sau giám định, ngày 12/11/2024, vụ Ly Thị P xảy ra ngày 05/10/2024", Mặt sau trên mép dán có chữ ký, họ tên của Dương Văn Long, Lò Thị Kim Toán, Trần Thị Giang Châu và 02 dấu tròn đỏ của Trung tâm pháp y tỉnh Điện Biên.

    (Hiện vật chứng của vụ án đang được lưu giữ tại kho vật chứng thuộc phòng PC10 Công an tỉnh Điện Biên theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 13/12/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên và Phòng PC10 Công an tỉnh Điện Biên).

  4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vừ A S.
  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (24/3/2025). Người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc Tòa án niêm yết bản án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc Tòa án niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - VKSND Cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Điện Biên;
  • - Công an tỉnh Điện Biên (PC02);
  • - Bị cáo;
  • - Người đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Người bào chữa;
  • - Phòng HSNV Công an tỉnh;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Điện Biên;
  • - Cục THADS tỉnh Điện Biên;
  • - Vụ Giám đốc kiểm tra I - TANDTC;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Đã ký

Hoàng Thị Hòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2025/HS-ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN về giết người

  • Số bản án: 55/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Giết người
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo 18 (mười tám) năm tù về tội Giêt người
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger