Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 55/2025/HS-PT

Ngày: 11/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hùng.

Các Thẩm phán: Bà Vũ Ngọc Hàông Lê Trúc Lâm.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang – Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa:

Bà Đỗ Thị Minh Tâm – Kiểm sát viên Trung cấp.

Ngày 11 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên mở phiên tòa công khai để xét xử vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 49/2024/TLPT-HS ngày 16 tháng 5 năm 2025 do có kháng cáo của bị cáo Y Hai K đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 15/2025/HS-ST ngày 04/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên.

- Bị cáo có kháng cáo: Y Hai K, sinh ngày 12 tháng 10 năm 1962 tại tỉnh Đắk Lắk. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Buôn Drai, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Chỗ ở hiện nay: Buôn Y, xã Y, huyện L, tỉnh Đắk Lắk. Quốc tịch: Việt Nam. Giới tính: Nam. Dân tộc: Ê Đê. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm nông. Trình độ học vấn: 12/12 (Đại học nông nghiệp). Con ông Y Khuê N (chết) và bà Hluê K1 (chết), có vợ tên HMet Niê, sinh năm 1968 (đã ly hôn) và 04 con, con lớn nhất sinh năm 1988, con nhỏ nhất sinh năm 1993 (bị cáo khai tại phiên tòa: bị cáo có 05 con, con lớn nhất sinh năm 1988, con nhỏ nhất sinh năm 2000). Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 03/01/2025 đến nay tại Phân Trại tạm giam khu vực huyện S, có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Y Hai K: Luật sư Phạm Văn N1, Văn phòng L, đoàn Luật sư tỉnh Đ, địa chỉ: A P, p. T, Tp ., tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.

- Người bị hại: Bà H Krul B, sinh năm 1957. Trú tại: Buôn B, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

- Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị hại bà H Krul Byă: Luật sư Lê Công T, Văn phòng L1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ, địa chỉ: B N, P. T, Tp ., tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Y Hai KBuôr nghe thông tin rằng Công ty C đang tiến hành 01 dự án trồng rừng ở huyện E, huyện E tỉnh Đắk Lắk. Ngày 09/01/2020, Y H KBuôr đến nhà bà H Krul Byă chơi và nói dối với bà H Krul Byă là Công ty C đang tiến hành 01 dự án trồng rừng ở huyện E, huyện E nếu muốn tham gia thì 01 hộ được 01 ha đất ruộng và 05 ha đất trồng rừng. Bà H K2 Byă tin sẽ được đất như Y H KBuôr nói nên đã đồng ý tham gia 01 suất. Y Hai KBuôr nói với bà H Krul Byă muốn được tham gia thì cần có tiền đưa cho Y H KBuôr để chi trả chi phí đi lại lo dự án. Bà H K2 Byă tưởng thật, tin tưởng lời của Y H KBuôr nên đã đưa cho Y H Kbuôr 10.000.000 đồng (Y H KBuôr có viết giấy nhận tiền), sau khi nhận tiền, Y H KBuôr đã tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 09/03/2020, Y H KBuôr tiếp tục đến gặp bà H Krul Byă nói cần thêm tiền làm chi phí đi lại lo dự án, bà H Krul Byă tiếp tục đưa thêm cho Y H KBuôr 20.000.000 đồng, Y H KBuôr đã tiêu xài cá nhân hết. Đến năm 2024, bà H Krul B không thấy được giao đất và nhiều lần liên lạc với Y H KBuôr nhưng không được, biết đã bị Y H KBuôr lừa đảo chiếm đoạt tiền nên làm đơn báo cáo Cơ quan chức năng giải quyết.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 15/2025/HS-ST ngày 04/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên đã tuyên bị cáo Y Hai K phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng Khoản 1, Điều 174; Điểm b, s, K, Điều 51; Điểm g, Khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Y H KBuôr 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam (ngày 03/01/2025).

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo và bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về việc bị cáo có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại số tiền 60.000.000 đồng, đã bồi thường 30.000.000 đồng, còn phải bồi thường 30.000.000 đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.

Ngày 15/4/2025, bị cáo Y H KBuôr có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo hoặc không áp dụng hình phạt tù và không đồng ý bồi thường thêm số tiền 30.000.000 đồng cho bị hại theo thỏa thuận tại phiên tòa sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo Y H KBuôr vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo về phần trách nhiệm hình sự và thừa nhận toàn bộ hành vi của bị cáo đã thực hiện như nội dung bản án sơ thẩm đã mô tả. Bị cáo Y Hai K tự nguyện xin rút nội dung kháng cáo về phần trách nhiệm bồi thường dân sự.

Người bào chữa cho bị cáo Y Hai K là Luật sư Phạm Văn N1 trình bày: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại toàn bộ số tiền chiếm đoạt là 30.000.000đ. Số tiền bị cáo chiếm đoạt của bị hại không lớn. Sau khi bị hại trình báo sự việc, bị cáo và bị hại đã thỏa thuận bồi thường. Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số và có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo là bộ đội xuất ngũ, quá trình công tác tại địa phương được Hội cựu chiến binh huyện K tặng Giấy khen vì có thành tích hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ công tác năm 2012. Bị cáo được Bộ trưởng Chủ nhiệm Ủy ban dân tộc tặng kỷ niệm chương vì sự nghiệp phát triểu các dân tộc vào năm 2009 nên đề nghị HĐXX xem xét áp dụng thêm Điểm v, Khoản 1, Khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xử phạt bị cáo mức hình phạt bằng thời gian bị cáo đã bị tạm giam.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 342; Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Y H KBuôr về phần trách nhiệm bồi thường dân sự và căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Y Hai K – giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Lời khai nhận tội của bị cáo Y H KBuôr tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng về thời gian, địa điểm phạm tội, cách thức thực hiện hành vi phạm tội và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Y Hai KBuôr đã 02 lần dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của bà H Krul B với tổng số tiền 30.000.000 đồng nên cấp sơ thẩm truy tố, xét xử bị cáo Y H KBuôr về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Khoản 1, Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng tội.
  2. Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

    [2.1] Đối với kháng cáo về phần hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo Y H KBuôr nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an - an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “phạm tội 02 lần trở lên” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm g, Khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự nên cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Khi lượng hình, án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ phạm tội, áp dụng đúng, đầy đủ tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo để xử phạt bị cáo mức hình phạt phù hợp. Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm người bào chữa cho bị cáo cung cấp tài liệu thể hiện bị cáo là bộ đội xuất ngũ; quá trình công tác tại địa phương, bị cáo được Hội cựu chiến binh huyện K tặng Giấy khen vì có thành tích hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ công tác năm 2012. Bị cáo được Bộ trưởng Chủ nhiệm Ủy ban dân tộc tặng kỷ niệm chương vì sự nghiệp phát triển các dân tộc vào năm 2009. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có tình tiết mới phát sinh tại cấp phúc thẩm. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị cáo, giảm cho bị cáo một phần hình phạt, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo, trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội.

    [2.2] Đối với nội dung kháng cáo về phần bồi thường thiệt hại: Tại phiên tòa, bị cáo Y Hai K xin rút nội dung kháng cáo này. Xét thấy, việc rút yêu cầu kháng cáo này của bị cáo là tự nguyện, phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo về phần bồi thường thiệt hại.

  3. Bị cáo Y H KBuôr kháng cáo được chấp nhận một phần nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc kháng nghị cấp phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 342; Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Y H KBuôr về phần trách nhiệm bồi thường dân sự.

Quyết định của bản án sơ thẩm về phần trách nhiệm bồi thường dân sự có hiệu lực pháp luật kể từ ngày đình chỉ xét xử phúc thẩm.

Căn cứ Điểm b, Khoản 1, Điều 355; Điểm c, Khoản 1, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Y H KBuôr – Sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt.

Tuyên bố: Bị cáo Y H KBuôr phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

  1. Về hình phạt: Áp dụng Khoản 1, Điều 174; Điểm b, s, K, Khoản 2, Điều 51; Điểm g, Khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Y H KBuôr 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 03/01/2025).

  2. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Y H KBuôr không phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDTC;
  • - TAND Cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND Cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Phú Yên (2);
  • - CQ CSĐT Công an tỉnh Phú yên;
  • - TAND h. Sông Hinh (3);
  • - VKSND h. Sông Hinh;
  • - PTTG khu vực h. Sông Hinh;
  • - Chi Cục THADS h. Sông Hinh;
  • - NTGTT, CQ TT;
  • - P. KTNV THAHS; Lưu HS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Việt Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2025/HS-PT ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 55/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 55 - 11 6 2025 - BẢN ÁN - HSPT - Y HAI K Đ 174 - CT HÙNG
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger