|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 55/2025/HNGĐ-ST
ngày 30/06/2025
V/v “Tranh chấp về
Hôn nhân và gia đình”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH – TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Thái
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Đình Cát – bà Phan Kim Hoa
Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Mai An – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh, Nghệ An
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên tòa: bà Ngô Thị Hà - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30/06/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 192/2025/TLST - HNGĐ ngày 04/04/2025 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:55/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23/05/2025, theo Quyết định hoãn phiên tòa số 41/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 06 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Phạm Thị H, sinh năm: 1981
Nơi ĐKHKTT: K, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
Có mặt.
Bị đơn: Ông Nguyễn Châu T, sinh năm: 1976
Nơi ĐKHKTT: SN B, đường A, K, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Căn cứ vào đơn khởi kiện và những lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, tại đơn xin xét xử vắng mặt nguyên đơn là bà Nguyễn Thị H1 trình bày:
Về quan hệ tình cảm: Bà Phạm Thị H và ông Nguyền Châu T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống và đã đăng ký kết hôn theo đăng ký kết hôn ngày 09/11/2006 tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Sau một thời gian chung sống vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, nguyên nhân do kinh tế khó khăn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc và mục đích hôn nhân không đạt được. Bà Phạm Thị Bích N xin được ly hôn với ông Nguyễn Châu T đê hai bên sớm ôn định cuộc sống.
Về con chung: Bà Phạm Thị H và ông Nguyền Châu T1 có 03 người con chung tên là Nguyễn Huệ M, sinh ngày 05/8/2005, đã trưởng thành; cháu Nguyễn H2, sinh ngày 03/04/2007, đã trưởng thành; cháu Nguyễn Tùng L, sinh ngày 12/12/2014. Nay ly hôn, bà Phạm Thị H có nguyện vọng giao cháu Nguyễn Tùng L cho ông Nguyễn Châu T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.
Về tài sản chung: Bà Phạm Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là ông Nguyễn Châu T, vắng mặt tại phiên tòa, quá trình tố tụng không có ý kiến gửi cho Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án như sau: Toà án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, Thẩm phán, Hội đồng xét xử thực hiện các bước tố tụng đúng theo quy định của pháp luật, nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự, kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, Tòa án đã chuyển giao quyết định hoãn phiên tòa đúng quy định nên xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị H và ông Nguyền Châu T1 tự nguyện đi đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An ngày 09/11/2006, như vậy là hợp pháp cần được bảo vệ. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian, sau đó xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa Bà Phạm Thị H và ông Nguyền Châu T1 đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên chấp nhận đơn khởi kiện của bà Phạm Thị H.
[3] Về con chung: Vợ chồng có 03 người con chung tên là Nguyễn Huệ M, sinh ngày 05/8/2005, đã trưởng thành; cháu Nguyễn H2, sinh ngày 03/04/2007, đã trưởng thành; cháu Nguyễn Tùng L, sinh ngày 12/12/2014. Nay ly hôn, bà Phạm Thị H có nguyện vọng giao cháu Nguyễn Tùng L cho ông Nguyễn Châu T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Quá trình tố tụng ông Nguyễn Châu T vắng mặt nên không có ý kiến về việc chăm sóc nuôi dưỡng các con chung. Xét thấy, nguyện vọng của bà Phạm Thị H là chính đáng, nên Hội đồng xét xử chấp nhận, giao cháu Nguyễn Tùng L, sinh ngày 12/12/2014 cho ông Nguyễn Châu T trực tiếp nuôi dưỡng trưởng thành, hai bên có quyền đi lại thăm nom chăm sóc con chung không ai được ngăn cấm.
[4] Về tài sản chung: Bà Phạm Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
Tại phiên tòa kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về quan hệ hôn nhân, nuôi con chung. Xét thấy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ theo quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, 6 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án Phạm Thị Bích N phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; điều 202; khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, điều 107, 110, 117 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5, 6 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Bích N và xử như sau:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Phạm Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Châu T.
[2] Về con chung: giao cháu Nguyễn Tùng L, sinh ngày 12/12/2014 cho ông Nguyễn Châu T trực tiếp nuôi dưỡng trưởng thành.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
[3] Về tài sản chung: Bà Phạm Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[5] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Phạm Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) bà H đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009007 ngày 03/04/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh, Nghệ An.
Bà Phạm Thị H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Ông Nguyễn Châu T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà |
Bản án số 55/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH – TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp về hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 55/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH – TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
