TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 55/2025/HNGĐ-ST
Ngày 30-5-2025
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Ngọc Biên, bà Nguyễn Thị Tin.
Thư ký phiên tòa: Ông Mông Anh Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Trịnh Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 134/2025/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2025/QĐXX-ST ngày 16 tháng 5 năm 2025 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Tạ Thị H, sinh năm 1999 (có mặt)
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1994 (có mặt)
Cùng địa chỉ: thôn N, xã L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn chị Tạ Thị H trình bày:
Chị và anh Nguyễn Văn T kết hôn với nhau vào ngày 27/09/2018, trước khi cưới có được tìm hiểu nhau trên cơ sở tự nguyện và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện Y (nay là thành phố B), tỉnh Bắc Giang. Cưới xong chị về chung sống với anh T ngay, vợ chồng sống với nhau được một thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống nên trong cuộc sống thường xảy ra to tiếng. Chị chuyển về gia đình bố mẹ đẻ, sống ly thân với anh T từ tháng 4/2024 đến nay, vợ chồng không quan tâm, quan hệ gì với nhau nữa. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Uy V, sinh ngày 24/04/2019 và Nguyễn Diệu A, sinh ngày 15/12/2021. Hiện nay cháu V đang ở với bố, cháu Diệu A đang ở với mẹ, cả 2 con đều khỏe mạnh phát triển bình thường. Ly hôn chị đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng mỗi người nuôi 1 con, cụ thể là chị nuôi con Nguyễn Diệu A còn để anh T là người nuôi con Nguyễn Uy V.
Về điều kiện nuôi con: Hiện nay chị đang làm công nhân tại Công ty D, khu Công nghiệp N, thành phố B. Mức thu nhập từ 10 triệu đồng - 11 triệu đồng/tháng. Thu nhập đủ đảm bảo cho sinh hoạt của hai mẹ con, về thời gian làm việc và điều kiện ăn ở đảm bảo cho chị chăm sóc, nuôi dậy con.
- Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa, bị đơn là anh Nguyễn Văn T trình bày:
Anh xác nhận lời khai của chị Tạ Thị H về thời điểm vợ chồng kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L vào năm 2018 là đúng. Thời điểm vợ chồng phát sinh mâu thuẫn là khoảng tháng 4 năm 2024, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về vấn đề tình cảm, anh nghi ngờ chị H có quan hệ với người đàn ông khác. Mặc dù đã được gia đình khuyên giải, động viên nhiều lần nhưng vợ chồng vẫn không hòa hợp. Chị H bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở Thôn L, xã T, huyện Y (nay là thành phố B) từ tháng 4/2024, vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên nhất trí ly hôn với với chị H.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Uy V, sinh ngày 24/04/2019 và Nguyễn Diệu A, sinh ngày 15/12/2021. Từ khi vợ chồng ly thân cả 2 con đều ở với anh, đến tháng 04/2025 anh mới cho chị H đón con Nguyễn Diệu A về bên ông bà ngoại ở cùng. Nay ly hôn, anh đề nghị Tòa án giao cả hai con cho anh trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc vì anh không yên tâm để 01 con cho chị H nuôi, hoặc nếu có giao 01 con cho chị H nuôi thì chị H phải cam kết không chuyển khẩu của con về xã T (phải để con có cùng hộ khẩu với bố) và trường hợp chị H kết hôn với người khác thì phải giao lại con cho anh nuôi.
Về điều kiện nuôi con: Hiện nay anh làm lái xe cho Công ty TNHH L (phường T, thành phố B), mức thu nhập từ 09 đến 10 triệu đồng/tháng. Với mức thu nhập đó đảm bảo cho cuộc sống của anh và để nuôi con, thời gian làm việc của anh từ 07 giờ đến 16 giờ hàng ngày, trong thời gian anh đi làm có ông bà nội ở nhà hỗ trợ đưa đón các con đi học, lo cho các cháu ăn uống. Hiện tại anh chưa có nhà đất riêng, bố con anh vẫn ở cùng nhà với ông bà nội nhưng gia đình đảm bảo điều kiện ăn ở, học tập cho các con anh.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Trường hợp Tòa án giao cả hai con cho anh nuôi dưỡng thì anh không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhiều lần mở phiên hòa giải nhưng các bên không thỏa thuận được với nhau.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa sơ thẩm phát biểu ý kiến:
Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa, Thẩm phán và Thư ký tòa án đã tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về phía các đương sự, nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đề nghị căn cứ các điều 51, 55, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; các điều 28, 35, 39, 147, 271, 273, 280 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về xử lý án phí, lệ phí, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận chị Tạ Thị H và anh Nguyễn Văn T thuận tình ly hôn.
- Về con chung: Giao chị Tạ Thị H là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung là Nguyễn Diệu A, sinh ngày 15/12/2021; giao anh Nguyễn Văn T là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung là Nguyễn Uy V, sinh ngày 24/04/2019.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Tạ Thị H và anh Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Do đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.
- Về án phí: Chị Tạ Thị H là nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền chị H đã nộp tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Dũng (nay là Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang), tỉnh Bắc Giang.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về thủ tục tố tụng:
Chị Tạ Thị H là người có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn với anh Nguyễn Văn T. Bị đơn anh Nguyễn Văn T là người có địa chỉ cư trú tại thôn N, xã L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Tạ Thị H và anh Nguyễn Văn T kết hôn với nhau vào năm 2018 trên tinh thần tự nguyện, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại U, huyện Y (nay là thành phố B), tỉnh Bắc Giang (Căn cứ: Giấy chứng nhận kết hôn số 50/2018 do UBND xã L cấp ngày 27/9/2018). Như vậy xác định quan hệ giữa chị Tạ Thị H và anh Nguyễn Văn T là hôn nhân hợp pháp.
[2.2] Về mâu thuẫn vợ chồng:
Căn cứ lời khai của chị Tạ Thị H và anh Nguyễn Văn T cùng xác định vợ chồng xảy ra mâu thuẫn từ tháng 4/2024, nguyên nhân do vợ chồng thường xảy ra bất đồng, không hoà hợp trong đời sống tình cảm. Chị H chuyển về gia đình bố mẹ đẻ ở, sống ly thân với anh T từ tháng 4/2024 đến nay, hiện tại vợ chồng không ở cùng nhau, không quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ nhau, vấn đề này cả hai bên đều thừa nhận. Nay tại phiên tòa chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn, anh T nhất trí ly hôn nên cần công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Tạ Thị H và anh Nguyễn Văn T là phù hợp quy định tại Điều 51, Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2.3] Về con chung: Chị Tạ Thị H và anh Nguyễn Văn T có hai con chung là Nguyễn Uy V, sinh ngày 24/04/2019 và Nguyễn Diệu A, sinh ngày 15/12/2021. Nay chị H có nguyện vọng được nuôi 01 con còn anh T có nguyện vọng được nuôi cả hai con. Hội đồng xét xử xét thấy nguyện vọng nuôi con của cả chị H và anh T đều là chính đáng, nhưng do vợ chồng không thỏa thuận được về người trực tiếp nuôi con khi ly hôn, nên cần căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014để giải quyết tranh chấp này.
Tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:
“Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn.
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con ...”
Xét về điều kiện nuôi dưỡng, giáo dục, chăm sóc con của chị Tạ Thị H và anh Nguyễn Văn T là tương đương nhau vì anh chị đều làm lao động tự do, không có nhà đất riêng, đều đang ở cùng với bố mẹ đẻ, về điều kiện thu nhập (kinh tế), thời gian chăm sóc con của hai bên là ngang nhau. Cháu Nguyễn Diệu A, sinh ngày 15/12/2021 hiện nay hơn 3 tuổi (học lớp 3 tuổi tại trường Mầm non xã T) và đang ở cùng mẹ, cháu là nữ giới nên cần có sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ hơn. Đối với cháu Nguyễn Uy V hiện nay đang học lớp 5 tuổi tại trường Mầm non xã L, cháu đang ở với bố, khỏe mạnh, phát triển bình thường. Do vậy để không làm xáo trộn, ảnh hưởng đến sự phát triển của các con thì cần giao cho chị Tạ Thị H trực tiếp nuôi con Nguyễn Diệu A, giao anh Nguyễn Văn T là người trực tiếp nuôi con Nguyễn Uy V sẽ bảo đảm lợi ích, sự phát triển về mọi mặt cho con và phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
Sau khi ly hôn, chị Tạ Thị H và anh Nguyễn Văn T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân va gia đình.
Trường hợp có tranh chấp về người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.4] Về cấp dưỡng nuôi con: Do giao mỗi người nuôi một con nên không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho bên nào.
[2.5] Về tài sản chung, công nợ chung: Do đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[3] Về án phí: Chị Tạ Thị H là nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội.
[4] Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 51, 55, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; các điều 28, 35, 39, 147, 271, 273, 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận chị Tạ Thị H và anh Nguyễn Văn T thuận tình ly hôn.
- Về con chung: Giao chị Tạ Thị H là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung là Nguyễn Diệu A, sinh ngày 15/12/2021; giao anh Nguyễn Văn T là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung là Nguyễn Uy V, sinh ngày 24/04/2019.
Chị Tạ Thị H và anh Nguyễn Văn T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn, không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về án phí: Chị Tạ Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng chị H đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002389 ngày 24 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Tạ Thị H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thái Sơn |
Bản án số 55/2025/HNGĐ-ST ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 55/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu cho ly hôn
