|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 55/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 30 - 5 - 2025.
V/v Tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Trúc;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Đức Chung.
Ông Nguyễn Văn Phước.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Lan Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 52/2025/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 01 năm 2025 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 57/2025/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Hồng G, sinh năm 1989.
Địa chỉ: Tổ G, Ấp A, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Anh Ngô Thanh Đ, sinh năm 1984.
Địa chỉ thường trú: Số B, tổ F, khu A, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ liên lạc: Nhà trọ ông Lâm Hoàng S, tổ G, Ấp A, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
(Chị G có mặt, anh Đ vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện, trong quá trình tố tụng, nguyên đơn trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Ngô Thanh Đ xây dựng gia đình vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai vào ngày 15/5/2009, trên cơ sở hai bên đều tự nguyện. Trong những năm đầu anh chị chung sống hạnh phúc, sau đó bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, xuất phát từ việc chồng chị thường xuyên nhậu nhẹt, chị khuyên ngăn nhưng chồng chị không thay đổi, giữa anh chị thường xuyên cãi vã, anh Đ có những lời nói xúc phạm chị.
Nay chị nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn được, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị không còn tình cảm, không quan tâm đến anh Đ nữa. Do đó, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Ngô Thanh Đ.
Về con chung: Anh chị có 02 con chung tên Ngô Lâm Quốc B, sinh ngày 19/11/2009 và Ngô Lâm Tấn T, sinh ngày 13/5/2015. Chị G yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Nợ chung: Không có.
2. Bị đơn anh Ngô Thanh Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến Tòa tham gia tố tụng nhưng vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng nên không có lời khai.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc thu thập chứng cứ đầy đủ, khách quan, thời hạn tố tụng được đảm bảo và các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ. Nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Bùi Thị Hồng G được ly hôn với anh Ngô Thanh Đ. Đề nghị giao cháu Ngô Lâm Quốc B, sinh ngày 19/11/2009 và Ngô Lâm Tấn T, sinh ngày 13/5/2015 cho chị Bùi Thị Hồng G trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Tạm thời anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Ngô Thanh Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xử vắng mặt anh Ngô Thanh Đ.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Bùi Thị Hồng G và anh Ngô Thanh Đ được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai vào ngày 15/5/2009 và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 63 ngày 15/5/2009 nên được xem là hôn nhân hợp pháp.
Theo truyền thống và luật định thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống chị G và anh Đ đã không làm được điều này. Hiện nay, anh chị tuy còn chung sống chung một mái nhà nhưng đã lạnh nhạt với nhau, chị G không còn tình cảm, không quan tâm đến anh Đ nữa, đời sống hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Quá trình giải quyết tại Tòa án, anh Đ dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến để hòa giải đoàn tụ, chứng tỏ anh đã bỏ mặc quan hệ hôn nhân này. Do đó, cần áp dụng khoản 1 Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị G được ly hôn với anh Đ.
[2.2] Về con chung: Anh chị có 02 con chung tên Ngô Lâm Quốc B, sinh ngày 19/11/2009 và Ngô Lâm Tấn T, sinh ngày 13/5/2015. Các cháu đều có nguyện vọng được sống với mẹ vì mẹ yêu thương, quan tâm và chăm sóc cho các cháu tốt. Do đó, cần giao 02 con chung cho chị G trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng để đảm bảo tốt nhất cho sự phát triển của các cháu. Tạm thời anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.
[2.3] Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết.
[2.4] Về nợ chung: Không xem xét giải quyết.
[2.5] Về án phí: Chị G phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình.
[3] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
- Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bùi Thị Hồng G đối với bị đơn anh Ngô Thanh Đ về việc “Tranh chấp ly hôn”.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị Hồng G được ly hôn với anh Ngô Thanh Đ.
2. Về con chung: Giao cháu Ngô Lâm Quốc B, sinh ngày 19/11/2009 và Ngô Lâm Tấn T, sinh ngày 13/5/2015 cho chị G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, anh Đ vẫn được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở anh thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên cũng như mức cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị Bùi Thị Hồng G phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0014559 ngày 10 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành.
5. Chị G có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thanh Trúc |
Bản án số 55/2025/HNGĐ-ST ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 55/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp ly hôn
