Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC NINH

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2025/HNGĐ-ST
Ngày 28 tháng 5 năm 2025
V/v: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Vũ Minh Trang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Đức Phú, bà Nguyễn Thị Liên

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Vân Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết - Kiểm sát viên

Ngày 28 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 38/2024/TLST-HNGĐ ngày 24/10/2024 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hải Y, sinh năm 1988; Có mặt

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1982; Vắng mặt

Cùng HKTT: SỐ G, khu Đ, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các biên bản làm việc tại Tòa án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hải Y trình bày:

Chị và anh Nguyễn Văn C có thời gian tìm hiểu và tự nguyện đăng kí kết hôn vào ngày 22/3/2021 tại UBND phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung với gia đình anh C tại phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Hai vợ chồng chung sống được khoảng 02 năm thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do hai vợ chồng bất đồng trong quan điểm sống, không hợp nhau cả về tư tưởng và lối sống. Hai vợ chồng ly thân từ đầu tháng 10/2023 đến nay vẫn đang sống ly thân. Nay chị Y xác định tình cảm không còn, không thể chung sống được nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn C.

Về con chung: Vợ chồng anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Quỳnh C1, sinh ngày 06/7/2022. Hiện tại cháu C1 đang sống chung với anh Nguyễn Văn C. Khi ly hôn, chị Y có nguyện vọng để anh C tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Quỳnh C1, Về cấp dưỡng: Chị đề nghị được cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh C 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Về tài sản và công nợ chung: Không có và không đề nghị Toà án giải quyết.

Về án phí: Chị Y tự nguyện chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Bị đơn anh Nguyễn Văn C vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc và xét xử của Tòa án.

Ông Nguyễn Văn S – Bố đẻ của anh Nguyễn Văn C cho biết: Ông xác nhận thời điểm kết hôn của anh C và chị Y. Trong quá trình chung sống, ông có được biết về mâu thuẫn giữa vợ chồng anh C, chị Y. Chị Y đã chuyển ra khỏi nhà ông từ tháng 9/2023 đến nay. Do nhận thấy mâu thuẫn của chị Y, anh C hiện đã không thể hòa giải, ông S đề nghị Tòa án xem xét giải quyết cho vợ chồng chị Y, anh C ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Quỳnh C1, sinh ngày 06/7/2022. Kể từ khi chị Y dọn ra ngoài, cháu C1 vẫn sống chung với anh Nguyễn Văn C ổn định cho tới thời điểm hiện tại.

Đại diện Hội Liên hiệp Phụ nữ phường H cho biết:

Chị Nguyễn Thị Hải Y có sinh hoạt tại Hội Liên hiệp phụ nữ phường H vào khoảng năm 2022. Từ năm 2023 cho đến nay thì chị Y không tiếp tục sinh hoạt do đã chuyển nơi ở đi khỏi địa phương. Trong quá trình sinh hoạt, chị Y không trao đổi nên gì về mâu thuẫn giữa vợ chồng chị Nguyễn thị Hải Y và anh Nguyễn Văn C nên Hội không nắm bắt được. Về con chung là cháu Nguyễn Quỳnh C1: Cháu C1 vẫn sinh sống cùng anh C và ông bà nội kể từ khi chị Y chuyển nơi ở cho đến nay. Đối với việc chị Y xin ly hôn, Hội có ý kiến như sau: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã giao nộp cho Toà án các tài liệu, chứng cứ gồm:

  • Giấy chứng nhận kết hôn của chị Nguyễn Thị Hải Y và anh Nguyễn Văn C;
  • Giấy khai sinh bản sao của cháu Nguyễn Quỳnh C1;
  • Bản sao CCCD của chị Y và anh C;
  • Xác nhận thông tin về cư trú của chị Nguyễn Thị Hải Y và anh Nguyễn Văn C;
  • Đơn khởi kiện và từ chối hòa giải tại trung tâm hòa giải, đối thoại tại Tòa án của chị Nguyễn Thị Hải Y.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh phát biểu quan điểm tại phiên toà:

Về tố tụng: Quá trình tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập đúng quy định nhưng vắng mặt, cần chấp hành hơn.

Về nội dung: Áp dụng Điều 28; 35; 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 110 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Quốc hội

  • Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hải Y, chị Y được ly hôn anh Nguyễn Văn C.
  • Về con chung: Anh chị có con chung là cháu Nguyễn Quỳnh C1, sinh ngày 06/7/2022. Đề nghị giao con chung cho anh C trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng: Nguyên đơn tự nguyện cấp dưỡng 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, đề nghị HĐXX xem xét chấp nhận.
  • Về tài sản, công nợ chung: Không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
  • Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hải Y phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà:

[1] Về tố tụng:

  • Tranh chấp giữa hai đương sự là Tranh chấp về hôn nhân và gia đình, do vậy thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Hải Y có đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Nguyễn Văn C. Anh C có đăng kí HKTT tại phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Trong quá trình làm việc, Tòa án đã tiến hành xác minh thông tin nơi cư trú, nhận thấy anh C vẫn đăng kí HKTT và trực tiếp sinh sống tại thành phố B, tỉnh Bắc Ninh chưa thay đổi, không đăng kí tạm trú ở địa chỉ nào khác. Do vậy, xác định quan hệ tranh chấp là “hôn nhân và gia đình”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Bị đơn anh Nguyễn Văn C đã được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt lần thứ hai không có lí do. Do vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
  • Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã mở phiên hòa giải nhưng các đương sự không hoà giải được về việc giải quyết toàn bộ vụ án nên Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh đã có Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung:

  • Về quan hệ hôn nhân:

Chị Nguyễn Thị Hải Y và anh Nguyễn Văn C đăng kí kết hôn từ ngày 22/3/2021 tại UBND phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Trước khi kết hôn, chị Y, anh C đã tự nguyện tìm hiểu và tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật được quy định tại các Điều 8, 9 Luật Hôn nhân và gia đình, nên đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung với gia đình anh C tại phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Trong cuộc sống đời thường, hai vợ chồng đã nhiều lần xảy ra mâu thuẫn, cãi vã. Nguyên nhân mâu thuẫn là do hai vợ chồng bất đồng trong quan điểm sống. Anh chị đã ly thân từ tháng 9/2023 cho tới nay. Tại phiên tòa, chị Y giữ nguyên quan điểm xin ly hôn, anh C vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Y và anh C đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy cần xử cho chị Y được ly hôn anh C là phù hợp.

  • Về con chung: Vợ chồng anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Quỳnh C1, sinh ngày 06/7/2022. Chị Y có nguyện vọng để anh C nuôi con chung. HĐXX xét thấy cháu C1 sinh sống ổn định cùng anh C từ nhỏ cho đến nay. Do đó, xét thấy yêu cầu của chị Y là có căn cứ, phù hợp với quy định nên cần ghi nhận. Về cấp dưỡng: Chị Y tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh C với mức cấp dưỡng là 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu C1 đủ 18 tuổi.

Trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện Hội Liên hiệp phụ nữ phường H cho đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

  • Về tài sản, công nợ: Chị Y và anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
  • Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hải Y tự nguyện chịu toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật, cần xem xét chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 19, 51, 56, 58, 81, 82, 83, 110 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 264, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Toà án; Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hải Y. Chị Nguyễn Thị Hải Y được ly hôn với anh Nguyễn Văn C.
  2. Giao con chung là cháu Nguyễn Quỳnh C1, sinh ngày 06/7/2022 cho anh Nguyễn Văn C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị Hải Y phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh C 2.000.000 đồng/tháng kể từ ngày xét xử cho đến khi cháu C1 trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc có sự thay đổi khác Chị Y có quyền, nghĩa vụ thăm nom và chăm sóc con chung không ai được cản trở.
  3. Về tài sản, công nợ chung: Chị Y và anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
  4. Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Hải Y phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con. Xác nhận chị Y đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001079 ngày 24/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh.
  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
HỘI THẨM NHÂN DÂNTHẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Đào Đức PhúPhạm Vũ Minh Trang
Nguyễn Thị Liên

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • -VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • -VKSND TP. Bắc Ninh;
  • - Chi cục THADS TP. Bắc Ninh;
  • - UBND phường Hòa Long, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ: Văn phòng.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Vũ Minh Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2025/HNGĐ-ST ngày 28/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 55/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp con chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger