TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI VHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 55/2025/HNGĐ-ST Ngày 27-6-2025 V/v”Không công nhận là vợ chồng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG – BÌNH THUẬN
-Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Lý Văn Lấy
Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Phạm Hồng Sơn
2/ Bà Trần Thị Hà
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Lê Thành Việt – Cán bộ tòa án nhân dân huyện Tuy Phong
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích Dung – Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xét xử công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 198/2025/TLST-HNGĐ, ngày 23 tháng 4 năm 2025 về việc “Không công nhận là vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2025/QĐXX, ngày 23/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Xuân Hiếu T, sinh năm 1973; Địa chỉ: số H S, phường A, quận A, thành phố Hồ Chí Minh (Xin vắng mặt);
- Bị đơn: Ông Cao Huỳnh T1, sinh năm 1971; Địa chỉ: thôn T, xã C, huyện T, Bình Thuận (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện nộp ngày 18 tháng 4 năm 2025 và đơn đề nghị ngày 05 tháng 5 năm 2025 nộp tại Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, nguyên đơn bà Nguyễn Xuân Hiếu T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà đã chung sống với ông Cao Huỳnh T1 từ năm 2010 đến 2013 như vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn, trong quá trình chung sống bà và ông T1 đã có nhiều mâu thuẫn do không cùng quan điểm và đã ly thân từ tháng 12 năm 2013 sau khi sinh con. Bà và ông T1 đã không còn tình cảm gì với nhau từ sau khi ly thân. Yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận là vợ chồng giữa bà và ông Cao Huỳnh T1.
Về con chung: Bà và ông Cao Huỳnh T1 có một đứa con chung tên Cao Nguyễn Thảo T2, sinh ngày 13-12-2013 đang ở với bà và do một mình bà nuôi dạy, bà yêu cầu toàn quyền nuôi dưỡng, giáo dục con chung, bà không ông T1 chu cấp khoản chi phí nuôi con.
Về tài sản chung: Bà và ông T1 không có bất kỳ tài sản chung nào trong quá trình sinh sống cùng nhau và không yêu cầu Tòa án phân chia.
Về nợ chung: Bà và ông T1 không có nợ chung.
Bị đơn ông Cao Huỳnh T1 trình bày tại biên bản lấy lời khai đương sự ngày 13/5/2025 tại Tòa án:
Về hôn nhân: Ông và bà T sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 2010 đến năm 2013 nhưng không đăng ký kết hôn và sinh sống ở S.
Trong quá trình sống chung giữa ông và bà T không có hợp nhau, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, do không cùng quan điểm, không có tiếng nói chung nên đã sống ly thân nhau từ tháng 12 năm 2013. Theo như bà T khai tình trạng hôn nhân giữa ông và bà T là đúng. Nay bà T làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết không công nhận vợ chồng giữa bà T với ông, ông đồng ý, ông không có ý kiến gì.
Về con chung: Có 01 đứa con chung, họ và tên: Cao Nguyễn Thảo T2, sinh ngày: 13/12/2013, hiện cháu bị bệnh thiểu năng nhận thức rất hạn chế và đang sống với bà T. Bà T yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục cháu T2, ông đồng ý. Bà T không yêu cầu ông cấp dưỡng nuôi con, ông không có ý kiến gì, để ông tự cấp dưỡng.
Về tài sản và nợ chung: Không có.
Phát biểu của Viện kiểm sát:
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong phát biểu ý kiến về việc kiểm sát tuân theo pháp luật:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tuân thủ theo đúng các quy định Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.
Việc tuân theo pháp luật của thư ký phiên tòa: thư ký đã tuân thủ theo đúng quy định tại các Điều 237 và Điều 239 Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án:
Từ khi thụ lý vụ án đến khi mở phiên tòa nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại Điều 70 và Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn không thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của người tham gia tố tụng theo quy định tại các Điều 70 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 BLTTDS xét xử vắng mặt đương sự theo thủ tục chung.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: Khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 9, Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/ 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10, ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc Thi hành Luật hôn nhân và gia đình.
Tuyên xử:
Về hôn nhân: Không công nhận bà Nguyễn Xuân Hiếu T và ông Cao Huỳnh T1 là vợ chồng
Về con chung: Giao cho bà T được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục con chung Cao Nguyễn Thảo T2, sinh ngày: 13/12/2013 đến khi các con trưởng thành.
Về án phí: Bà T phải nộp án phí ly theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và các lời trình bày của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy:
[1]. Thủ tục tố tụng: Ngày 05/5/2025 bà Nguyễn Xuân Hiếu T có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa và bị đơn ông Cao Huỳnh T1 đã được Toà án triệu tập hợp lệ, tuy nhiên ông T1 không có mặt để tham gia phiên toà xét xử, vì vậy Tòa án căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự đưa vụ án ra xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.
[2]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Cao Huỳnh T1 có nơi cư trú tại xã C, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của bà T đối với ông T1 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong được quy định tại khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3]. Xét yêu cầu của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Xuân Hiếu T và ông Cao Huỳnh T1 là quan hệ hôn nhân không được pháp luật công nhận, do bà T và ông T1 xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2010 nhưng không đăng kết hôn và cũng không đăng ký kết hôn trễ hạn mà pháp luật quy định. Trong quá trình chung sống bà T và ông T1 đều xác nhận rằng vợ chồng ông bà có cuộc sống không hạnh phúc một thời gian dài, đến năm 2013 thì bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn, do thường xuyên cãi vả, bất đồng quan điểm, sống không hợp nhau, từ đó quan hệ vợ chồng đổ vỡ, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà T có đơn đề nghị không công nhận vợ chồng giữa bà với ông T1, ông T1 không có ý kiến hay phản đối gì và đồng ý theo yêu cầu của bà T. Do giữa bà T và ông T1 lấy nhau không đăng ký kết hôn. Hội đồng xét xử, xét thấy quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông T1 là quan hệ hôn nhân không được pháp luật công nhận. Nên căn cứ vào Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10, ngày 9/6/2000 của Quốc hội để tuyên xử không công nhận là vợ chồng giữa giữa bà T và ông T1.
- Về con chung: Tại đơn khởi kiện bà Nguyễn Xuân Hiếu T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng giáo dục con chung Cao Nguyễn Thảo T2 do hiện cháu T2 đang mất bệnh thiểu năng nhận thức hạn chế nên cần có sự chăm sóc của mẹ. Yêu cầu của bà T, ông T1 đồng ý. Xét thấy, sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện không trái quy định pháp luật và đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận này của các đương sự, giao cho bà T được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung đến khi trưởng thành.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét việc cấp dưỡng nuôi con đối với ông T1.
- Về tài sản và nợ chung: Không có.
- Về án phí: Bà Nguyễn Xuân Hiếu T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng: Khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 9, Điều 14, Điều 15, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10, ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc Thi hành Luật hôn nhân và gia đình.
2. Tuyên xử:
Về hôn nhân: Không công nhận bà Nguyễn Xuân Hiếu T và ông Cao Huỳnh T1 là vợ chồng.
Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Xuân Hiếu T được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục con chung Cao Nguyễn Thảo T2, sinh ngày: 13/12/2013 đến khi con trưởng thành.
Bà T không được ngăn cản ông T1 trong việc thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung.
Về án phí: Bà bà Nguyễn Xuân Hiếu T phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm được trừ 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí bà đã nộp tại biên lai thu số 0007571, ngày 23/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phong.
3. Quyền kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận hoặc niêm yết công khai bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lý Văn Lấy |
Bản án số 55/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG – BÌNH THUẬN về không công nhận là vợ chồng
- Số bản án: 55/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Không công nhận là vợ chồng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG – BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không công nhận là vợ chồng
