Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH ĐẠI

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 55/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 24/6/2025

Về việc tranh chấp: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Long Hồ.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Võ Minh Quang;

2. Ông Nguyễn Văn Hiếu.

- Thư ký phiên Tòa: Ông Lê Minh Trọng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Vĩnh Thái – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 106/2025/TLST-HNGĐ, ngày 12 tháng 3 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 133/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 110/2025/QĐST- HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị D, sinh năm 1982 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre.

Bà D có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt đề ngày 25/4/2025.

- Bị đơn: Ông Ngô Hồng L, sinh năm 1979 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn xin ly hôn đề ngày 25/02/2025, bản tự khai ngày 08/4/2025 và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Thị D trình bày như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà D và ông L tự nguyện tiến tới hôn nhân trên tinh thần tự nguyện, cưới nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B vào năm 2004. Thời gian đầu sống chung có hạnh phúc nhưng đến tháng 01/2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, dẫn đến thường xuyên cự cãi nhau, không tìm được tiếng nói chung, mỗi người một cuộc sống riêng, không ai quan tâm ai. Nay, thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên bà D yêu cầu Tòa án cho ly hôn với ông L.

- Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng ông bà có 02 con chung tên là Ngô Hồng V, sinh ngày 13/3/2005, Ngô Hồng Thúy V1, sinh ngày 17/4/2009. Cháu V đã trưởng thành, có khả năng lao động, không yêu cầu giải quyết. Khi ly hôn, bà D đồng ý để ông L nuôi cháu V1 và không cấp dưỡng nuôi con

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận.

- Về nợ chung: Không có.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Bình Đại đã tống đạt hợp lệ cho ông Ngô Hồng L các văn bản tố tụng nhưng ông L vắng mặt không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như phiên tòa xét xử vụ án mặc dù ông L vẫn còn sinh sống tại địa phương nên Tòa án không thu thập được lời khai của ông Ngô Hồng L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về thủ tục tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Lê Thị D khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với ông Ngô Hồng L. Do đó, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này được xác định là “Ly hôn” theo quy định tại khoản 14 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình.

[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn ông Ngô Hồng L có đăng ký thường trú và hiện đang sinh sống tại ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre. Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Bình Đại.

[3] Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Ngô Hồng L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để xét xử nhưng ông L vẫn vắng mặt không có lý do. Bà Lê Thị D vắng mặt và có Đơn yêu cầu xét xử vắng mặt đề ngày 25/4/2025.

Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng là phù hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án:

[4] Về quan hệ hôn nhân: Bà D và ông L cưới nhau vào năm 2004 trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre theo Giấy chứng nhận kết hôn số 20 ngày 09 tháng 4 năm 2004 theo đúng quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa bà D và ông L được công nhận hợp pháp.

Nay, bà D yêu cầu ly hôn ông L vắng mặt nên không có lời khai. Hội đồng xét xử xét thấy: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của bà D trong quá trình giải quyết vụ án, đều xác định được cuộc sống vợ chồng của ông bà đã phát sinh mâu thuẫn từ tháng 01/2024, nguyên nhân do vợ chồng không cùng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, mỗi người đã có một cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai.

Toà án đã tiến hành mời bà D và ông L để hoà giải, nhằm cho các bên có cơ hội hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông L vẫn vắng mặt không lý do, điều đó cho thấy ông L đã không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này.

Vậy, có cơ sở để Hội đồng xét xử xác định giữa bà D và ông L đã không còn quan tâm, chăm sóc đến cuộc sống của nhau, cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình. Điều đó cũng chứng tỏ hôn nhân của ông bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà D là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về con chung: Trong quá trình sống chung giữa bà D và ông L có 02 con chung tên là Ngô Hồng V, sinh ngày 13/3/2005, Ngô Hồng Thúy V1, sinh ngày 17/4/2009. Cháu V đã trưởng thành, có khả năng lao động, không yêu cầu giải quyết. Khi ly hôn, bà D đồng ý để ông L nuôi cháu V1 và không cấp dưỡng nuôi con

Hội đồng xét xử xét thấy: Cháu V1 đang sống cùng với ông L nên để ông L được tiếp tục nuôi dưỡng cháu V1 là phù hợp. Do ông L không có ý kiến về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con trong suốt quá trình tố tụng nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu không cấp dưỡng nuôi con chung của bà D, trường hợp ông L có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung thì xem xét giải quyết trong vụ án khác.

[6] Về tài sản chung: Bà Lê Thị D khai tự thỏa thuận nên không xét đến.

[7] Về nợ chung: Bà Lê Thị D khai không có nên không xét đến.

[8] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

Bà Lê Thị D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

VÌ CÁC LẼ TRÊN,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 14 Điều 3, Điều 51, 56, 57, 58, 59, 81, 82, 83, 84, 119 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm a khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị D đối với ông Ngô Hồng L. Cho ly hôn giữa bà Lê Thị D và ông Ngô Hồng L.

    Quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Thị D và ông Ngô Hồng L theo Giấy chứng nhận kết hôn số 20 ngày 09 tháng 4 năm 2004 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre chấm dứt kể từ ngày Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

  2. Về con chung: Có 02 con chung tên là Ngô Hồng V, sinh ngày 13/3/2005, Ngô Hồng Thúy V1, sinh ngày 17/4/2009. Cháu Hồng V đã trưởng thành, có khả năng lao động, không yêu cầu giải quyết.

    Giao con chung Ngô Hồng Thúy V1, sinh ngày 17/4/2009 cho ông Ngô Hồng L trực tiếp nuôi dưỡng.

    Ghi nhận sự tự nguyện bà Lê Thị D không cấp dưỡng nuôi con.

    Bà Lê Thị D không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

    Ông Ngô Hồng L trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở bà Lê Thị D trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

    Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84, Điều 119 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, đồng thời theo yêu cầu của ông L, bà D, Tòa án có thể quyết định thay đổi người nuôi con và thay đổi yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

  3. Về tài sản chung: Bà Lê Thị D khai tự thỏa thuận nên không xét đến.
  4. Về nợ chung: Bà Lê Thị D khai không có nên không xét đến.
  5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm:

    Bà Lê Thị D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà D đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0011119 ngày 12 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Vậy, bà Lê Thị D đã nộp đủ án phí.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

  6. Về quyền kháng cáo: Bà Lê Thị D, ông Ngô Hồng L vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bến Tre (Phòng KTNV&THA);
  • - VKSND huyện Bình Đại;
  • - Chi cục THADS huyện Bình Đại;
  • - UBND xã Thới Thuận;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Phạm Long Hồ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2025/HNGĐ-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE về ly hôn

  • Số bản án: 55/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị D xin ly hôn anh L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger