|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 55/2025/HNGĐ-ST.
Ngày: 20- 6- 2025.
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Hảnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Hùng;
- Ông Bùi Văn Thái.
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Tấn Lộc - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 76/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phan Thị Kim T, sinh năm 1988 – Xin vắng mặt;
- Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: khu phố G, phường T, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.
- Tạm trú: khu phố A, phường A, thị xã T, Tỉnh Tây Ninh.
- Bị đơn: Anh Trần Thanh D, sinh năm 1986 - Xin vắng mặt;
- Địa chỉ: khu phố G, phường T, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Phan Thị Kim T trình bày:
Chị và anh Trần Thanh D chung sống với nhau vào năm 2008, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn vào năm 2009 tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện T (nay là phường G, thị xã T), tỉnh Tây Ninh. Sau khi chung sống vợ chồng chung sống tại khu phố G, thị trấn T, huyện T ( nay là khu phố G, phường T, thị xã T), tỉnh Tây Ninh. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh D thường xuyên đi sớm về khuya, làm không lo cho gia đình, vợ chồng thường xuyên gây gỗ nhau, ly thân từ tháng 03 năm 2021 đến nay. Từ khi ly thân, chị và anh D không ai đặt vấn đề đoàn tụ.
Nay chị yêu cầu được ly hôn anh D.
Về con chung: Vợ chồng có 02 người con chung tên Trần Thiên B, sinh ngày 05/10/2013 và Trần Thiên P, sinh ngày 01/12/2015 hiện cháu P đang sống chung với chị, cháu B đang sống với anh D. Khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu P, chị đồng ý giao cháu B cho anh D nuôi, không ai cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, bị đơn anh Trần Thanh D trình bày:
Anh Trần Thanh D thống nhất với lời trình bày của chị Phan Thị Kim T về thời gian chung sống, con chung, tài sản chung, nợ chung là đúng, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là vợ chồng gây gỗ nhau, chị T bỏ đi về nhà cha, mẹ ruột chị sống từ tháng 3 năm 2021 cho đến nay.
Nay anh cũng đồng ý ly hôn với chị T.
Về con chung: Vợ chồng có 02 người con chung tên Trần Thiên B, sinh ngày 05/10/2013 và Trần Thiên P, sinh ngày 01/12/2015, hiện cháu P đang sống chung với chị T, cháu B đang sống với anh. Khi ly hôn anh yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu B, anh đồng ý giao cháu P cho chị T nuôi, không ai cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh:
- - Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- - Về quan điểm giải quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56, Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét quyết định:
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Phan Thị Kim T yêu cầu được ly hôn anh Trần Thanh D.
Về con chung: Giao cháu Trần Thiên P, sinh ngày 01/12/2015 cho chị Phan Thị Kim T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Giao cháu Trần Thiên B, sinh ngày 05/10/2013 cho anh Trần Thanh D tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Ghi nhận chị T, anh D không ai yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
Chị T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:
[1] Về tố tụng: Chị Phan Thị Kim T, anh Trần Thanh D vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị Kim T và anh Trần Thanh D chung sống với nhau vào năm 2008, có đăng ký kết hôn Ủy ban nhân dân xã G, huyện T (nay là phường G, thị xã T), tỉnh Tây Ninh nên được thừa nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng thường xuyên gây gỗ nhau và ly thân từ tháng 03 năm 2021 đến nay. Từ khi ly thân, chị T và anh D không ai đặt vấn đề đoàn tụ. Qua làm việc anh D cũng đồng ý ly hôn với chị T. Hội đồng xét xử xét thấy, chị T và anh D ly thân từ tháng 3 năm 2021 đến nay mà không ai có thiện chí hàn gắn để đoàn tụ điều đó cho thấy mâu thuẫn giữa chị T và anh D trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của chị T được ly hôn anh D theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Chị T và anh D có hai con chung là tên Trần Thiên B, sinh ngày 05/10/2013 và Trần Thiên P, sinh ngày 01/12/2015. Khi ly hôn chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu P, chị đồng ý giao cháu Trần Thiên B, sinh ngày 05/10/2013 cho anh D nuôi. Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi chị T và anh D ly Thân, chị T là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu P, anh D nuôi dưỡng cháu B, hiện hai cháu phát triển tốt về thể chất lẫn tinh thần, cháu P có nguyện vọng muốn sống chung với chị T, cháu B có nguyện vọng muốn sống với anh D. Để tránh làm xáo trộn cuộc sống của hai cháu nên Hội đồng xét xử giao cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng cháu P, anh D tiếp tục nuôi dưỡng cháu B là phù hợp với Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Ghi nhận chị T, anh D không ai yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
[5] Như phân tích trên thì đề nghị của Viện kiểm sát về quan điểm giải quyết vụ án là có cơ sở chấp nhận.
[6] Án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phan Thị Kim T đối với anh Trần Thanh D.
Chị Phan Thị Kim T được ly hôn anh Trần Thanh D.
2. Về con chung: Giao cháu Trần Thiên P, sinh ngày 01/12/2015 cho chị Phan Thị Kim T được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Giao cháu Trần Thiên B, sinh ngày 05/10/2013 cho anh Trần Thanh D được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Ghi nhận chị T, anh D không ai yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Chị T, anh D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị T, anh D không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
4. Án phí: Chị Phan Thị Kim T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012297 ngày 13 tháng 02 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; Chị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Báo cho Chị T, anh D biết có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Phạm Văn Hảnh |
Bản án số 55/2025/HNGĐ-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 55/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
