Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

———————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

———————

Bản án số: 55/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 18/6/2025

V/v: “Chia tài sản sau khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lưu Triều

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lương Thị Mỹ Linh
  2. Bà Trần Thị Thanh Nga

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thái Hà – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Mỹ Thuận – Kiểm sát viên.

Vào hồi 14 giờ 30 phút, ngày 17 đến ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 318/2024/TLST-HNGĐ ngày 09/10/2024 về việc “Chia tài sản sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 320/2025/QĐST-DS ngày 26/5/2025 giữa:

- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Nguyễn Thu N – sinh năm: 1987

Địa chỉ: khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu Hoàng T - sinh năm: 1987

Địa chỉ: khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Bà N, ông T có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 17 tháng 6 năm 2024 nguyên đơn là bà Huỳnh Nguyễn Thu N và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm trình bày:

Bà Huỳnh Nguyễn Thu N và ông Nguyễn Hữu Hoàng T là vợ chồng đã ly hôn theo quyết định số 60/2024/QĐST-VHNGĐ ngày 05/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết nhưng chưa giải quyết tài sản chung vì trước khi ly hôn vào ngày 06/3/2024 ông T thỏa thuận sẽ nhận tài sản và hoàn lại cho bà N 1.300.000.000 đồng, nhưng ông T không thực hiện nên bà N khởi kiện chia tài sản sau khi ly hôn.

Về tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bà N, ông T có tạo dựng được căn nhà cấp 4B, diện tích xây dựng 81m², tại thửa đất số 322, tờ bản đồ số 22, diện tích 85m² đã được UBND thành phố P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 935261, số vào sổ cấp GCN: CH 00312 ngày 22/8/2012, tọa lạc tại khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Nguyên đơn đồng ý với kết quả đo đạc, định giá tài sản và không yêu cầu đo đạc, định giá lại tài sản. Căn cứ vào Chứng thư thẩm định giá số 304/2025/1765HCM/CT-TĐG/AAVC ngày 23/4/2025 của Công ty TNHH H thì giá trị tài sản chung nhà và quyền sử dụng đất của bà N, ông T là 2.915.011.000 đồng, trong đó giá trị quyền sử dụng đất ở tại đô thị là 2.666.365.000 đồng, nhà cấp 4B là 248.645.820 đồng.

Bà N giao cho ông T được quyền quản lý sử dụng và sở hữu căn nhà cấp 4B, diện tích 85m², tại thửa đất số 322, tờ bản đồ số 22, đã được UBND thành phố P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 935261, số vào sổ cấp GCN: CH 00312 ngày 22/8/2012 và yêu cầu ông T hoàn lại cho bà N ½ giá trị tài sản là 1.457.505.500 đồng.

Tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn Hữu Hoàng T trình bày:

Ông Nguyễn Hữu Hoàng T và bà Huỳnh Nguyễn Thu N là vợ chồng nhưng đã ly hôn theo quyết định số 60/2024/QĐST-VHNGĐ ngày 05/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết. Theo quyết định ly hôn thì ông T và bà N thoả thuận như sau, về hôn nhân: ông T và bà N thuận tình ly hôn, về con chung: bà N được trực tiếp nuôi hai con chung, về tài sản chung: các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, về nợ chung: không có.

Về tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân ông T và bà N có căn nhà cấp 4B, diện tích xây dựng 81m², tại thửa đất số 322, tờ bản đồ số 22, diện tích 85m² đã được UBND thành phố P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 935261, số vào sổ cấp GCN: CH 00312 ngày 22/8/2012, tọa lạc tại khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Bị đơn đồng ý với kết quả đo đạc, định giá tài sản và không yêu cầu đo đạc, định giá lại tài sản. Căn cứ vào Chứng thư thẩm định giá số 304/2025/1765HCM/CT-TĐG/AAVC ngày 23/4/2025 của Công ty TNHH H thì giá trị tài sản chung nhà và quyền sử dụng đất của bà N, ông T là 2.915.011.000 đồng, trong đó giá trị quyền sử dụng đất ở tại đô thị là 2.666.365.000 đồng, nhà cấp 4B là 248.645.820 đồng.

Đối với yêu cầu khởi kiện của bà N thì ông T đồng ý chia tài sản chung, qua đó ông được quyền quản lý sử dụng và sở hữu căn nhà cấp 4B, diện tích 85m², thửa đất số 322, tờ bản đồ số 22, đã được UBND thành phố P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 935261, số vào sổ cấp GCN: CH 00312 ngày 22/8/2012 nhưng ông T cho rằng công sức đóng góp của ông T trong khối tài sản này là 80% nên ông T được hưởng số tiền 2.332.008.800 đồng và sẽ hoàn lại cho bà N 583.002.200 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng ở giai đoạn sơ thẩm đều tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Nguyễn Thu N đối với ông Nguyễn Hữu Hoàng T, xác định thửa đất số 322, tờ bản đồ số 22, diện tích 85m², căn nhà cấp 4B, diện tích xây dựng 81m² được UBND thành phố P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 935261, số vào sổ cấp GCN: CH 00312 ngày 22/8/2012 là tài sản chung của bà Huỳnh Nguyễn Thu N và ông Nguyễn Hữu Hoàng T chưa chia, có giá trị định giá là 2.915.011.000 đồng.

Giao cho ông Nguyễn Hữu Hoàng T được quyền sử dụng thửa đất số 322, tờ bản đồ số 22, diện tích 85m², căn nhà cấp 4B, diện tích xây dựng 81m² được UBND thành phố P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 935261, số vào sổ cấp GCN: CH 00312 ngày 22/8/2012.

Buộc ông Nguyễn Hữu Hoàng T phải trả cho bà Huỳnh Nguyễn Thu N số tiền 1.457.505.500 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo đơn khởi kiện đề ngày 17/6/2024 thì nguyên đơn khởi kiện đối với ông Nguyễn Hữu Hoàng T để chia tài sản chung. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 207 Bộ luật Dân sựquan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp về chia tài sản sau khi ly hôn”.

[1.2] Về thẩm quyền: Tài sản tranh chấp là nhà và đất tọa lạc tại địa chỉ: khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, tranh chấp phát sinh giữa nguyên đơn và bị đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

[2] Xét nội dung yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Nguyễn Thu N:

[2.1] Về giá trị tài sản chung: Tại Chứng thư thẩm định giá số 304/2025/1765HCM/CT-TĐG/AAVC ngày 23/4/2025 của Công ty TNHH H thì giá trị tài sản chung nhà và quyền sử dụng đất của bà N, ông T là 2.915.011.000 đồng, trong đó giá trị quyền sử dụng đất ở tại đô thị là 2.666.365.000 đồng, nhà cấp 4B là 248.645.820 đồng. Đối với giá trị tài sản chung này, bà Huỳnh Nguyễn Thu N và ông Nguyễn Hữu Hoàng T đều thống nhất. Vì vậy, có căn cứ xác định tài sản chung của bà N và ông T là quyền sử dụng tại thửa đất số 322, tờ bản đồ số 22, diện tích 85m², căn nhà cấp 4B, diện tích xây dựng 81m² được UBND thành phố P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 935261, số vào sổ cấp GCN: CH 00312 ngày 22/8/2012. Bà N giao cho ông T được quyền quản lý sử dụng và sở hữu khối tài sản này và yêu cầu ông T hoàn lại ½ giá trị tài sản là 1.457.505.500 đồng.

Căn cứ vào Biên bản thỏa thuận sau ly hôn ngày 06/3/2024 thì ông T thỏa thuận sẽ nhận tài sản và hoàn lại cho bà N 1.300.000.000 đồng. Qua việc bà N, ông T thỏa thuận chia tài sản khi ly hôn thì thấy rằng ông bà đã chia tài sản theo nguyên tắc chia đôi tài sản chung, nên việc bà N yêu cầu chia tỷ lệ 50:50, cụ thể bà N và ông T mỗi người được nhận 50% giá trị tài sản chung là 1.457.505.500 đồng là đúng quy định pháp luật. Do đó, HĐXX xét thấy yêu cầu chia tài sản chung theo tỷ lệ 50%:50% của nguyên đơn là có căn cứ và phù hợp với Điều 218, 219 Bộ luật Dân sự nên được chấp nhận.

[2.2] Theo ông T trình bày thì trong thời kỳ hôn nhân ông T, bà N có căn nhà cấp 4B, diện tích xây dựng 81m², tại thửa đất số 322, tờ bản đồ số 22, diện tích 85m² đã được UBND thành phố P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 935261, số vào sổ cấp GCN: CH 00312 ngày 22/8/2012, tọa lạc tại khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, giá trị tài sản chung là 2.915.011.000 đồng, ông T đồng ý chia tài sản chung, qua đó ông được quyền quản lý sử dụng và sở hữu khối tài sản chung này nhưng cho rằng công sức đóng góp của ông trong khối tài sản này là 80% nên ông phải được hưởng số tiền 2.332.008.800 đồng và sẽ hoàn lại cho bà N 583.002.200 đồng.

Khoản 1 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp...”, khoản 2 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó” và khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”.

Do ông T không cung cấp được tài liệu, chứng cứ cho yêu cầu của mình là hợp pháp nên không được chấp nhận, vì vậy Hội đồng xét xử không chấp nhận công sức đóng góp của ông trong khối tài sản chung là 80% là đúng quy định pháp luật.

[2.3] Hội đồng xét xử nhận thấy bà Huỳnh Nguyễn Thu N và ông Nguyễn Hữu Hoàng T đều thừa nhận tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân giữa bà N, ông T gồm có căn nhà cấp 4B, diện tích xây dựng 81m², thửa đất số 322, tờ bản đồ số 22, diện tích 85m² đã được UBND thành phố P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 935261, số vào sổ cấp GCN: CH 00312 ngày 22/8/2012, tọa lạc tại khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Do đó, cần khẳng định đây là tài sản chung của bà N, ông T trong thời kỳ hôn nhân chưa chia.

Theo Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình, quy định nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ chồng như sau: “Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung, không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập”. Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình, tài sản chung của vợ chồng được quy định như sau: “……… Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”

Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử xác định: Thửa đất số 322, tờ bản đồ số 22, diện tích 85m², căn nhà cấp 4B, diện tích xây dựng 81m² được UBND thành phố P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 935261, số vào sổ cấp GCN: CH 00312 ngày 22/8/2012 là tài sản chung của bà N và ông T chưa chia, tài sản có giá trị định giá là 2.915.011.000 đồng.

Chấp nhận yêu cầu của bà N, buộc ông T phải trả cho bà N số tiền 1.457.505.500 đồng.

Giao cho ông T được quyền sử dụng thửa đất số 322, tờ bản đồ số 22, diện tích 85m², căn nhà cấp 4B, diện tích xây dựng 81m² được UBND thành phố P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 935261, số vào sổ cấp GCN: CH 00312 ngày 22/8/2012.

[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên cần chấp nhận.

[4] Về chi phí định giá và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Bà N tự nguyện chịu số tiền xem xét thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng.

Tiền định giá tài sản 25.272.000 đồng, bà N đã tạm ứng tổng số tiền 25.272.000 đồng. Do yêu cầu khởi kiện của bà N được chấp nhận nên ông T phải chịu số tiền chi phí trên. Nhưng tại phiên tòa bà N tự nguyện chịu 50% khoản tiền này do đó, ông T cần trả cho bà N số tiền 12.636.000 đồng.

[5] Về án phí: Bà N phải nộp án phí đối với phần bà N được chia là 36.000.000 đồng + 3% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt 800.000.000 đồng là 19.725.165 = 55.752.165 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 42.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà bà N đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0002118 ngày 09/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Bà N còn phải nộp 13.725.165 đồng.

Ông T phải nộp 36.000.000 đồng + 3% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt 800.000.000 đồng là 19.725.165 = 55.752.165 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, các Điều 91, 147, 157, 158, 165, 166, 266, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207, Điều 218, Điều 219 của Bộ luật dân sự; Điều 29, Điều 33 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Nguyễn Thu N đối với ông Nguyễn Hữu Hoàng Thạch . Xác định thửa đất số 322, tờ bản đồ số 22, diện tích 85m², căn nhà cấp 4B, diện tích xây dựng 81m² được UBND thành phố P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 935261, số vào sổ cấp GCN: CH 00312 ngày 22/8/2012 là tài sản chung của bà Huỳnh Nguyễn Thu N và ông Nguyễn Hữu Hoàng T chưa chia, có giá trị định giá là 2.915.011.000 đồng.

    Giao cho ông Nguyễn Hữu Hoàng T được quyền sử dụng thửa đất số 322, tờ bản đồ số 22, diện tích 85m², căn nhà cấp 4B, diện tích xây dựng 81m² được UBND thành phố P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 935261, số vào sổ cấp GCN: CH 00312 ngày 22/8/2012.

    Ông T có quyền và nghĩa vụ liên hệ và cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai kê khai, điều chỉnh và làm thủ tục đăng ký, quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

    Buộc ông Nguyễn Hữu Hoàng T phải trả cho bà Huỳnh Nguyễn Thu N số tiền 1.457.505.500 đồng.

    Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày bà N có đơn yêu cầu thi hành án, Cơ quan Thi hành án ra quyết định thi hành án mà ông T không trả số tiền 1.457.505.500 đồng nêu trên thì phải trả tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật D sựnếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

  2. Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Hữu Hoàng T phải trả cho bà Huỳnh Nguyễn Thu N số tiền 12.636.000 đồng.
  3. Về án phí: Căn cứ điểm b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14. Bà Huỳnh Nguyễn Thu N phải nộp 55.752.165 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 42.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà bà N đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0002118 ngày 09/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Bà N còn phải nộp 13.725.165 đồng. Ông T phải nộp 55.752.165 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (18/6/2025).

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sựhì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP. Phan Thiết;
  • - Chi cục THADS TP. Phan Thiết;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa




Nguyễn Lưu Triều

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Thị Mỹ Linh

Trần Thị Thanh Nga

Nguyễn Lưu Triều

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 55/2025/HNGĐ-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN về chia tài sản sau khi ly hôn

  • Số bản án: 55/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Chia tài sản sau khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HUỲNH NGUYỄN THU N TRANH CHẤP CHIA TÀI SẢN SAU KHI LY HÔN VỚI NGUYỄN HỮU HOÀNG T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger